Hiển thị các bài đăng có nhãn Ký ức. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Ký ức. Hiển thị tất cả bài đăng

5.6.19

TÙNG THIỆN VƯƠNG MIÊN THẨM VÀ BIẾN ĐỘNG “GIẶC CHÀY VÔI”


TÙNG THIỆN VƯƠNG MIÊN THẨM VÀ BIẾN ĐỘNG “GIẶC CHÀY VÔI”

(Trong các bạn trên FB, có những người là cháu trực hệ của Tùng Thiện vương nên bài viết này có thể gợi lên một vài chi tiết cần được trao đổi thêm. Mặt khác, vì đây không phải là bài sưu khảo nên có nhiều chi tiết chỉ được trình bày sơ lược, trong khuôn khổ một status FB, không đi sâu hơn vào nhân thân của nhân vật, mong người đọc không coi những chi tiết không có trong bài là sự thiếu sót)

Dưới triều Nguyễn, thời Tự Đức (1847-1883), hai ông chú ruột của nhà vua được đề cao về mặt văn chương thi phú là Tùng Thiện vương Miên Thẩm và Tuy Lý vương Miên Trinh, đến nổi tương truyền là nhà vua đã viết hai câu thơ tán tụng: “Văn như Siêu - Quát vô tiền Hán – Thi đáo Tùng -Tuy thất thịnh Đường”. Cả hai nhân vật Tùng Thiện vương và Tuy Lý vương đều là con vua Minh Mạng, đều là những người có tài năng và nhân cách, song cuộc đời của họ đã trải qua những biến động đáng buồn.

Tùng Thiện vương có tên là Nguyễn Phúc Miên Thẩm, tự Trọng Uyên, hiệu Thương Sơn, sinh năm 1819, con trai thứ 10 vua Minh Mạng. Ngày ông sinh ra, có những dấu hiệu của quý tướng trên cơ thể (một bên mày có lông dài trắng, lưng có nốt ruồi son…), vua Gia Long được tin, mừng lắm, ban cho 10 lạng vàng. Năm 7 tuổi ông đã rất chăm học, đọc nhiều sách thánh hiền, hiểu biết nhiều lẽ ở đời, năm 20 tuổi, được phong làm Tùng Quốc công. 

Năm 1846, một cuộc kỳ ngộ đã diễn ra tại An Dưỡng am, trên đồi Dương Xuân, cách kinh thành Huế 5 km. Chủ nhân của chiếc thảo am là thiền sư Nhất Định, vì chữ hiếu với mẹ già, đã từ bỏ quyền cao chức trọng ở những ngôi chùa lớn quanh kinh thành, xin với triều đình lên đồi Dương Xuân cất am, tự trồng trọt nuôi mẹ. Khách là Tùng Quốc công, chàng hoàng thân 27 tuổi, sống đời đạo hạnh, chỉ thích ngao du đây đó, vui với cảnh nước biếc non xanh. Cuộc gặp giữa hai tâm hồn đồng điệu giữa khung cảnh núi rừng hoang dã đã để lại một ấn tượng mạnh trong lòng chàng trai quen sống nơi gác tía lầu son.
Trở về kinh thành, Thương Sơn tiên sinh lấy bút viết những dòng cảm xúc có tên là “Chơi An Dưỡng am”:

”… Gần đây, nghe Thượng nhân dựng thảo am ở trong núi Nam, liền hỏi thăm. Tăng nhân chỉ con đường cong về phía tây, nương theo khe nước, từ các gò cao, vượt qua các lũng cỏ tranh đi quanh bốn, năm dặm mới đến được thảo am.

Thảo am rất nhỏ, một nửa thờ tượng Phật A Di Đà, một nửa là kê giường. Trước am có khe suối, tuy nhỏ nhưng trong, có thể hiện rõ những cảnh uốn khúc như có sắp đặt để làm vòng đai hỗ trợ cho thảo am.

Đến khi mặt trời sắp lặn, bốn phía núi mây phủ, mưa lạnh theo gió đến, từng hạt nước nhỏ thành dòng suối chảy róc rách, cùng ngồi trên giường thiền, nấu chè núi, nghe suối reo, bỗng dưng trong lòng khởi ra ý tưởng, tôi liền hỏi Thượng nhân: “Ở trong chỗ này, sở đắc là cái gì?”. Thượng nhân chỉ mỉm cười mà không đáp. Tôi thương cảm Thượng nhân tuổi già lại bệnh, có trao quà tặng mà Thượng nhân không nhận, tự nói có hai thị giả, trồng rau đậu, sớm tối đủ dùng, không mong cầu nhiều.” Ôi, Thượng nhân, bậc quá kỳ lạ, quá đặc biệt làm sao !
Nên liền rửa bút ghi lại bài này. Năm ấy là năm Thiệu Trị thứ 6 (1846) “
(trích Hàm Long Sơn Chí – bản dịch Thích Thái Hòa - Đặc san kỷ niệm 150 năm ngày Tổ khai sơn chùa Từ Hiếu viên tịch – Huế 1997- trang 35-36).

Có lẽ cuộc sống đạm bạc, hiếu thảo của một con người đáng kính như Nhất Định thiền sư đã làm lay động trái tim của một con người nhân hậu như Tùng Quốc công, năm 1849, ông xin lập một Tiêu viên riêng để đón mẹ già (bà Thục tần) về phụng dưỡng. Sau vườn, ông cho đắp một ngôi nhà nhỏ, xếp đá, dẫn nước, chim đến làm tổ vui vầy, đặt tên là Ký Thưởng viên. Song chữ hiếu chưa đền đáp được bao lâu, năm 1851, bà Thục tần mất, ông làm nhà ở mộ để chịu tang.

Sau ngày tang khó mãn rồi, Miên Thẩm được vua Tự Đức phong làm Tùng Thiện công (tước Nhất tự công lớn hơn Quận công và Quốc công). Song những năm 1850 – 1860 đánh dấu nhiều trăn trở trong cuộc sống của vị vương công. Trước tiên là mối bất hòa trầm trọng giữa hai người cháu ruột của ông, vốn là anh em cùng cha với nhau, người anh là An Phong công Hồng Bảo, người em là Hồng Nhậm, tức vua Tự Đức. Sự bất hòa và căng thẳng đến mức có lúc Hồng Bảo định cầu viện ngoại bang nhằm lật đổ người em của mình, để rồi cuối cùng đã tìm đến cái chết như một sự giải thoát (1854).

Một trong những người bạn tâm đầu của Tùng Thiện vương là Cao Bá Quát, khi nhà thơ họ Cao được cử giữ chức Hành tẩu bộ Lễ năm 1841. Tuy nhiên, vào tháng 9 âm lịch năm đó, khi làm sơ khảo trường thi Hương, chỉ vì thương người học trò có tài lỡ phạm trường qui, họ Cao lấy muội đèn chữa mấy chữ, việc bị phát giác, ông bị giam giữ mấy năm liền. Cũng chính Cao Bá Quát là người đã đề tựa cho tập Thương Sơn Thi Tập của Tùng Thiện vương. Năm 1854, Cao Bá Quát tôn một trong những người thuộc dòng dõi nhà Lê là Lê Duy Cự làm minh chủ và khởi binh chống lại triều đình, nhưng việc không thành, năm 1855, ông qua đời và việc ông chết như thế nào được nhiều nguồn tư liệu ghi chép khác nhau.
Những năm 1860, nhiều biến động dồn dập xảy ra: Pháp chiếm 4 tỉnh Nam Kỳ và triều đình Huế phải ký hòa ước nhượng ba tỉnh miền Đông cho Pháp. Năm 1864, Tùng Thiện vương gả con gái đầu lòng là Thể Cúc cho Đoàn Hữu Trưng (hay Đoàn Trưng) và cuộc hôn nhân này đã gián tiếp đưa cuộc đời vị vương công vào những bước ngoặt mới. Tháng 9 âm lịch (AL) năm này, vua Tự Đức quyết định chọn Vạn Niên cát địa (đất để làm lăng mộ vua chúa) ở làng Dương Xuân thượng, huyện Hương Thủy để làm một khu vực vừa là cung điện (Khiêm cung), vừa là lăng tẩm (Khiêm lăng).

Tháng 8 AL năm 1867, Vạn niên cơ hay Khiêm cung đã hoàn tất việc xây dựng. Không có tài liệu nào cho biết trong những năm 1864-1867, công trình này đã ngốn bao nhiêu công quỹ và làm hao tốn bao nhiêu sức người. Theo sách Đại Nam thực lục chính biên, vua Tự Đức rước Từ Dụ Thái Hậu cùng ra xem nơi vui chơi, đồng thời là nơi an nghỉ cuối cùng về sau của mình. Các hoàng thân, quan văn từ ngũ phẩm, quan võ từ tứ phẩm trở lên đều được ban yến và ban cho vật hạng theo thứ bậc. Nhân dịp này nhà vua nổi tiếng hay chữ có làm một bài ký dài (Khiêm cung ký) kể lể những sự việc diễn ra từ thời thơ ấu cho đến khi nắm quyền trị nước. Nhờ đó người ta biết rằng khi còn bé, nhà vua “gầy còm ốm yếu kéo dài nhiều khi tưởng nguy, mẹ thường bồng bế sớm tối rất là khó nhọc...”

Hóa ra nhà vua phải chuẩn bị lăng mộ sớm sủa ở cái tuổi chưa đến 40 là vì sức khỏe suy yếu, sợ rằng mình có thể chết bất cứ lúc nào. Và có lẽ để bớt phần mặc cảm, vua Tự Đức đặt tên cho kiến trúc lăng mộ của mình là Khiêm cung (hay Khiêm lăng sau khi ông thăng hà) với tất cả những phần phụ thuộc đều kết thúc bằng chữ Khiêm. Có thể đếm được trong bài ký của nhà vua ít nhất 45 tiểu kiến trúc có chữ khiêm như nhà Minh khiêm làm nơi tấu nhạc nhà Ôn khiêm để đồ vua dùng; Tòng khiêm, Dụng khiêm, Trì khiêm là nơi ở của cung tần theo hầu, gác Ích khiêm để ngắm trông phong cảnh, ao Tiểu khiêm như hình trăng mới mọc, điện Hòa khiêm làm chỗ đèn hương nương tựa sau này...

Dù đức khiêm của nhà vua là dường ấy, nhưng quy mô đồ sộ của kiến trúc và nhất là sự khổ nhọc của quân dân khi bị trưng dụng làm công tác xây lăng tại làng Dương Xuân Thượng đã làm phát sinh trong dân gian những câu thơ như một lời tán thán nặng nề:

Vạn niên là vạn niên nào
Thành xây xương lính hào đào máu dân.
Hoặc
Tới thăm công sở vạn niên
Lùa quân treo ngược đầy miền núi non
Đôi vai gánh đá xương mòn.
Mông trôn roi đánh chẳng còn mảng da.

4 câu sau nằm trong một bài thơ dài có tên là Trung nghĩa ca, tác giả là Đoàn Trưng, con rể Tùng Thiện vương. Bài thơ như những lời hịch kể tội nhà vua, không khỏi khiến cho người xem nghĩ đến một sự hô hào lật đổ ngai vàng vua Tự Đức. Những bất mãn của dân chúng đối với việc xây dựng Khiêm cung đã được Trưng xem như một yếu tố quan trọng trong hành động của mình. Mặt khác, tự thấy mình không đủ uy tín cá nhân để lôi kéo quần chúng một cách có hiệu quả, Đoàn Trưng cùng với em là Đoàn Hữu Ái và Đoàn Tư Trực đã tìm đến một nhân vật mà nỗi bất hạnh của gia đình sau hơn mười năm vẫn chưa xóa nhòa trong lòng người dân Huế. Đó là Ưng Đạo, cháu ruột của vua Tự Đức, con trai An Phong công Hồng Bảo, sau cái chết của cha phải đổi tên là Đinh Đạo. Đoàn Trưng lập Đông sơn thi tửu hội, một hội tư, ở đó người ta cùng nhau bàn luận thi phú nhưng kỳ thực nhằm che giấu những cuộc họp để mưu loạn. Địa điểm họp là chùa Pháp Vân của nhà sư Nguyễn Văn Quý, Đoàn Hữu Ái cạo trọc đầu giả làm nhà sư để liên lạc với người trong bọn. Thành công bước đầu của nhóm Đoàn Trưng là móc nối được với hữu quân Tôn Thất Cúc, một trong những người có trách nhiệm canh giữ đại nội. Sự nội ứng của viên đại thần này là một đảm bảo quan trọng cho sự thành công của kế hoạch. Khi mọi việc đã chuẩn bị xong xuôi, họ tổ chức làm chay trong ba ngày để tập trung người mà không bị nghi ngờ. Nửa đêm mùng 8 tháng 9 AL năm 1866, nhóm Đoàn Trưng từ chùa Pháp Vân kéo nhau đến Khiêm cung. Đoàn Trưng nằm trên võng có người khiêng tự xưng là Tham tri bộ Công đi thám sát việc xây lăng. Đến nơi, Trưng tuyên bố hủy bỏ việc xây lăng, yêu cầu dân quân tại đây quay về kinh thành tấn tôn vua mới. Gặp lúc đang khó nhọc dưới sự áp chế của hai viên quan triều là đốc biện Nguyễn Văn Chất và đồng biện Nguyễn Văn Xa, phần khác lại có sự đe dọa của nhóm Đoàn Trưng nên dân công nô nức kéo nhau rời bỏ Khiêm cung, không quên mang theo chày đâm vôi đang sử dụng trong việc xây dựng, như một thứ vũ khí tình cờ. Về sau, cái tên “Giặc chày vôi” phát xuất từ chi tiết này. 

Tuy nhiên, cuộc đột kích vào cung điện đã gặp phải sự chống trả mạnh mẽ, cuối cùng dẫn đến thất bại. Trong vụ này, sách sử không cho biết rõ vai trò của Đinh Đạo, con trai Hồng Bảo, quan trọng đến mức nào, nhưng đa số nhà nghiên cứu sử nghĩ rằng ông ta chỉ xuôi theo người khác khi thấy có lợi cho mình. Trong đêm mồng 8 tháng 9 đó, kiệu vàng đưa Đinh Đạo vào cung để lên ngôi hoàng đế dừng nửa chừng vì cuộc nổi loạn bị chặn đứng. Vua Tự Đức ban chỉ dụ buộc Đinh Đạo, mẹ, vợ và các con tổng cộng 8 người phải thắt cổ chết và cấp cho quan quách, vải lụa để chôn. Trong quyết định khá cứng rắn của mình, nhà vua còn ban phát một chút khoan hồng, miễn cho chém bêu đầu, vì thời đó, hình phạt này (chết không toàn thây) được xem như nặng hơn hình phạt thắt cổ. Những thủ phạm chính gồm Đoàn Trưng, Đoàn Tư Trực và nhiều người khác bị xử lăng trì, bêu đầu cho công chúng xem để làm gương.
Nhưng cái chết của Trưng chưa phải là dấu chấm hết của câu chuyện ân oán chốn cung đình. Nó liên quan đến số phận Tùng Thiện vương Miên Thẩm, cha vợ của Trưng, và là chú ruột vua Tự Đức. Khi biến cố vừa kết thúc, Tùng Thiện vương bèn trói con gái là Thể Cúc và cháu ngoại (tức vợ và con Đoàn Trưng) đem nộp cho triều đình, còn mình thì dâng sớ xin nhận tội. Vua Tự Đức vốn sẵn lòng nể trọng ông chú hay chữ, cũng cảm thấy chạnh lòng trước hoàn cảnh của Tùng Thiện vương, đã bảo: “Tòng Thiện công là người có học, được yêu thương đã lâu, há có lòng nào, nhưng kén rể không kỹ, có nhục đến thánh giá tội ngờ chỉ nhẹ, phạt bổng 8 năm”. (Đại Nam thực lục – Tập 7 – NXB Giáo dục – Hà Nội - trang 1010). Riêng về vợ con Đoàn Trưng cũng không thấy nhà vua bắt tội gì. Chính sự kiện này đã khiến người đời sau thắc mắc: vợ con chánh phạm được tha tội, còn mẹ, vợ, con tòng phạm thì bị thảm sát. Có lẽ lý do chính trong quyết định của vua Tự Đức là nỗi ám ảnh không nguôi về những xung đột ngấm ngầm trong gia đình sau khi ông lên kế vị vua Thiệu Trị. Sự hiện diện và những hành tung của Đinh Đạo, giọt máu còn lại của người anh cả không được kế vị vua cha đã làm nhà vua luôn bất an nên việc Đạo tham gia vào cuộc phản loạn là dịp ông giải thoát mình khỏi nỗi bất an đó. Còn gia đình Tùng Thiện vương dính dấp đến việc làm của Trưng nhưng vua Tự Đức đã gần như xí xóa mọi việc. Tuy nhiên biến cố đã để lại một ấn tượng nặng nề trong cuộc sống cuối đời của Tùng Thiện vương và cái chết sớm của ông vào năm 1870 không hẳn là không có yếu tố trên.
Lê Nguyễn
5.6.2019

11.5.19

Ngày của mẹ


Rất nhiều lần tôi có ý niệm bỏ cuộc ,nhưng khi cúi đầu lại chợt nghĩ ,nếu ở thế giới bên kia mẹ thấy tôi thất bại như vậy chắc sẽ buồn lắm ,cho nên tôi vẫn phải tự nhắc nhở bản thân bước tiếp.



Khi mẹ còn bên cạnh ,bà là kim chỉ nam cho tôi,khi mẹ rời xa tôi ,bà là động lực để tôi phấn đấu .Sau này trưởng thành hơn một chút,hiểu biết hơn một chút mới nhận ra được nhiều điều ,nhưng chẳng có ai ở bên trông theo sự trưởng thành của tôi nữa.Điều ước nhỏ nhoi hiện tại là mỗi sáng được mẹ gọi dậy đi học biết sẽ không thể nào thực hiện được,đến trường cũng một mình ,ở nhà cũng một mình ,nhưng lúc gục ngã vẫn có thể thấy nụ cười của mẹ- thứ hạnh phúc lớn nhất cuộc đời .

Cảm ơn mẹ vì tất cả ,được làm con của mẹ là món quà lớn nhất mà thượng đế ban tặng ,ở một nơi nào đó mong rằng mẹ vẫn có thể nghe thấy chúng con.Chúng con yêu mẹ 


Và chúc mừng ngày của mẹ ,gởi lời yêu thương và cảm ơn đến tất cả các người mẹ trên thế giới !

1.5.19

THƯA "MẸ" VIỆT NAM

Ngày 30.4 đọc lại bài thơ của Nguyễn Thị Tịnh Thy thật nao lòng.
● Thơ Nguyễn Thị Tịnh Thy
DƯỚI ĐÂY LÀ BÀI THƠ TÔI VIẾT CHO NHỮNG NGÀY 30 THÁNG 4 TRÊN ĐẤT NƯỚC TÔI; viết cho người nằm xuống, người đứng lên, người ra đi, người ở lại; cho những nỗi và niềm đầy ngang trái cứ ngoáy vào vết thương lịch sử. Ai comment, xin hãy nghĩ đến câu “tiên trách kỷ nhi hậu trách nhân”. Xin cảm ơn! (Nguyễn Thị Tịnh Thy)
--------
THƯA "MẸ" VIỆT NAM
Mẹ ơi!
Khi Cha nói với Mẹ rằng
Ta là giòng giống của Rồng
Nàng là giòng giống của Tiên
sống với nhau hoài không đặng
Sao Mẹ không nhắc Cha câu gừng cay muối mặn
Sao Mẹ không trả lời Cha
Đi mô đem thiếp đi cùng
đói no thiếp chịu lạnh lùng thiếp theo
Khi Cha bảo Mẹ đem năm mươi con lên núi
Sao Mẹ không trả lời Cha
Lấy chồng thì phải theo chồng
chồng đi đường rắn đường rồng cũng theo
Khi Cha hứa với Mẹ nếu gặp khó khăn
Nàng hãy cùng các con gọi to về biển
Sao Mẹ không trả lời Cha
Chúng ta thà no đói có nhau
râu tôm nấu với ruột bầu
thuận vợ thuận chồng tát biển Đông cũng cạn
Sao Mẹ chấp nhận để một trăm đứa con phải chia ly đôi ngả
Để cuống rốn chúng con bị cắt đứt làm hai
Sao Mẹ chịu khổ đau một mình mà không nói với ai
dắt díu năm mươi con đi lên miền núi thẳm
để năm mươi thiếu vắng hơi mình
Ước chi ngày xưa Mẹ cứ bên Cha cho trọn nghĩa tình
dù vất vả đắng cay
dù chịu nhiều cơ cực
nuôi chúng con bằng nước sông Hồng
với cơm tấm, ổ rơm
bên ướt Mẹ nằm…
Để đêm đêm dưới ánh trăng rằm
Chúng con được nghe lời Mẹ dạy
Rằng anh em như thể tay chân
Chị ngã em nâng
Gà cùng một mẹ…
Chúng con lớn lên
Cách núi ngăn sông
Xa mặt cách lòng
Năm mươi đứa xa cha như nhà không nóc
Năm mươi đứa thiếu mẹ quên chín chữ cù lao
không biết quý câu một giọt máu đào
bao bận nồi da xáo thịt
Chúng con chia nhà Mẹ thành hai ngõ
ngõ Đàng Ngoài và ngõ Đàng Trong
ngõ bên này và ngõ bên kia sông
Vì danh lợi
vì tiền tài
vì nhiều điều khác nữa
mà có ngày xem nhau là nước lửa
Rồi bất hiếu bàn nhau
rạch ngang mình Mẹ
cầu Hiền Lương đè nặng buồng tim
Mẹ ở đâu giữa hai miền Bắc Nam
Khi bao con gái của Mẹ hóa thành hòn vọng phu
bao con trai thành chiến sĩ trận vong hoặc thành liệt sĩ
Dẫu ở bên nào
cũng đều là con Mẹ
tàn hại lẫn nhau
Đứa nào cũng nói trước nói sau
là vì muốn chấm dứt nỗi đau
vì muốn giúp Mẹ được nối liền thân ngọc
nên đứa nào cũng súng gươm hằn học
trút xuống đầu nhau vô số nỗi tai ương
Làm sao có thể nối liền vết thương
bằng phát súng nhát gươm
chứ không phải bằng sợi chỉ
sợi chỉ dài se từ những tình thương
Nhân danh gì mà chúng con ngợi ca
hoặc chì chiết sự sống lẫn cái chết của nhau
Nhân danh gì mà gọi nhau là địch
đếm xác anh em xây thắng lợi cho mình
Ai cũng nói là yêu Mẹ với tất cả tâm tình
Ai cũng bảo là hoàn toàn vì Mẹ
Càng yêu Mẹ nhiều càng phải giết anh em?
Mẹ có ngờ đâu
các con lớn khôn
không muốn hát câu nhiễu điều phủ lấy giá gương
không muốn hát câu bầu ơi thương lấy bí
mà thích hát trên những xác người
Chúng con hát trên những xác người bài hát hân hoan
Chúng con say sưa ngợi ca lý tưởng của mình
không nghĩ đến Mẹ thế nào khi nhìn anh em con chém giết
Chẳng có ai cần biết
Mẹ ở đâu trong những trận tương tàn
trong tiếng súng đêm ngày dội về đinh tai nhức óc
Mẹ đứng ở trời Nam để ngóng về đất Bắc
hay đứng giữa dòng Bến Hải
lấy nước sông làm dịu nỗi xót lòng…
Mẹ sinh ra chúng con trong cùng một bọc
Những tưởng để thương nhau
Đâu nghĩ đến ngày sau
trăm đứa con trai xé nát bọc đồng bào
xẻ chia thân mẹ
Mấy trăm năm vết cắt cũ vẫn còn
Mấy mươi năm vết xẻ mới vẫn chưa liền sẹo
Trăm đứa con vẫn còn đi muôn nẻo
trăm tấm lòng vẫn chưa hết hờn căm
Ai cũng nói cuộc đời có bao lăm
mà chẳng ai chịu nhường ai một bước
Cũng là một từ đất nước
mà trong một ngày
có người gọi là giải phóng quê hương
có người kêu là ngày quốc hận
Rồi kẻ cười người khóc
người đoàn tụ kẻ biệt ly
người hồ hởi đeo huy chương đứng trước máy truyền hình
kẻ uất hận nuốt tủi hờn trong bóng tối
Hơn bốn mươi năm rồi
chưa một ai nói với Mẹ là chính mình có lỗi
mà chỉ chực chờ đổ lỗi cho nhau
Mẹ ơi!
Ngang trái trái ngang
hận thù thù hận
khổ đau đau khổ
vòng luẩn quẩn không cởi ra mà càng thít chặt
Đường đời lắm thương đau
nhiều gập ghềnh lắt lẻo
chẳng có đứa con nào chịu nắm tay Mẹ dắt
nên đã lạc lối lầm đường
chẳng đứa nào chín bỏ làm mười
nên chúng xát muối vào lòng nhau mỗi khi có thể
Khép lại lịch sử… vẫn biết là như thế
Sao chỉ khép với người ngoài
còn với anh em thì cày đi xới lại
mát dạ người này thì rát dạ người kia
Vì sao?
Vì sao?
Có phải vì xa cách nhau
từ cái thuở Mẹ Cha mỗi người mỗi ngả
nên bây giờ đứa con nào cũng thế
thích bán anh em xa mua láng giềng gần
dù không khác máu nhưng vẫn tanh lòng…
Mẹ đau!
Mẹ đau!
Hãy nhắc cho kỹ, nhớ cho sâu
Khi con hát bài ca chiến thắng
là khi mẹ dâng trào cay đắng
Sung sướng chi mà nối liền khúc ruột mình bằng xác những đứa con
Mẹ có ngờ đâu
sau khúc khải hoàn
Con của mẹ thay chiến hào bằng nhà tù khắp chốn
để giam giữ anh em
Chiến tranh không còn
nhưng máu vẫn đổ
bao nhiêu đứa con Mẹ bị chôn sấp dập ngửa trên rừng vàng
bao nhiêu đứa chìm sâu dưới biển bạc
bao nhiêu đứa cập bến rồi vẫn lênh đênh phiêu dạt
Con rồng cháu tiên, lá ngọc cành vàng
phải có ngày nâng niu bàn chân thiên hạ
kiếm đồng tiền nương náu phận lưu vong
Nuốt oán nuôi thù phục hận long đong đất khách
như dã tràng xe cát
Giàu sang thành đạt hiển hách nơi xứ người
khác nào mặc áo gấm đi đêm
Xưa Mẹ vọng phu
bây giờ vọng tử
héo hon, mòn mỏi
vọng các con về dưới mái yêu thương
nơi có những hàng tre xanh mát con đường
quên hết muộn phiền không còn thù hận…
Làm sao?
Làm sao?
Chúng con có thể cùng nhau
cúi đầu trước Mẹ
hóa giải thù xưa nói lời tạ tội
Để nước mắt thôi rơi
để tóc Mẹ xanh
để lòng Mẹ mát
để vết thương bao nhiêu năm chà xát
không còn hành hạ Mẹ ngày đêm
Dẫu biết rằng không thể đợi chờ thêm
Không thể đợi chờ thêm…
Nhưng…
Làm sao?
Phải làm sao?
Thưa Mẹ Việt Nam?
NGUYỄN THỊ TỊNH THY
(Huế, tháng 4 năm 2018)

20.3.19

Mãn khó: Viết cho một người đã đi xa..


8 tháng trời, quặn thắt nỗi lòng...!

Từ khi phát hiện bệnh em như người mất hồn, tôi cũng vậy. Cứ nghe bác sĩ BV đa khoa ĐN gọi riêng tôi để tư vấn đặc biệt về con đường tìm kiếm sự sống tiếp theo mà lòng cứ co thắc. Tôi quyết định chọn nơi an toàn nhất với hy vọng giành giật lại sự sống dù mong manh trước lưởi hái tử thần gõ cửa mạng em.
Sau tết mọi thứ đều bận rộn, và như thế tôi có 3 ngày để chuẩn bị mọi thứ cho cuộc “hành trình” dự kiến dài ngày ở Singapore, lên kế hoạch, huy động tài chính, tìm dịch vụ, đặt vé máy bay…đến việc tiếp người thân, bạn bè, đồng nghiệp, ai đến chia sẽ đều mang nỗi buồn không dám thổ lộ. Còn em thì thuốc men, chạy vạy khắp nơi gõ cửa chùa, tìm thầy phán … và làm bất cứ điều gì để mua cho riêng mình một sự bình an, may mắn để bước qua cửa tử. 

Mọi thứ đã xong, mọi người tiễn chúng tôi tại sân bay ĐN, không ai cầm được nước mắt, đến nhà ga sân bay Nội Bài chờ hơn 1 tiếng, cả 2 thỉnh thoảng nhìn nhau để tìm điều gì đó an ủi, cứ thế, gằm xuống, ngước lên, nhìn sang bên không nói nỗi 1 từ mà nước mắt cứ cay cay. Đến Singapore với một mớ hàng hóa lương thực dự sống dài ngày chúng tôi tìm được chỗ ở giá rẻ, em đã thấm mệt, mắt đờ ra, tôi cũng không hơn gì nhưng cũng phải đến BV Quốc gia Singapore để gặp chuyên gia tư vấn. 1 tuần khám và xét nghiệm lên pháp đồ điều trị với chi phí đã gần hết số tiền đem theo. Bác sĩ gặp chúng tôi để thông báo các bước tiếp theo, và chi phí chuẩn bị. Nghe xong em đề nghị xuất viện ngay ngày hôm đó… Mang nỗi thất vọng về phòng trọ rồi suy nghĩ mông lung, em hỏi tôi: Thôi mai, em với anh đến bệnh viện để xin toa mua thuốc khắc chế tạm thời con bệnh rồi anh và em làm chuyến du lịch ở xứ sở này xong về VN hãy tính chứ 12 tỷ đồng VN thì đào đâu ra anh, tội anh tội con nữa chứ, cứ hy vọng về VN gặp thầy gặp thuốc. Mặc dầu đó là câu nói tự an ủi nhưng tự nhiên tôi thấy em bản lĩnh hơn tôi. Thôi quyết định vậy đi, thế là chúng tôi có 2 ngày du lịch phượt cuối cùng với nhau dưới cái nắng hừng hực ở cái đất nước sư tử này. Đã đi du lịch thì phải vui không nhăn nhó, để chuyện sinh tử bên ngoài chúng tôi có 2 ngày hạnh phúc nhất, đáng nhớ nhất và mua sắm nhiều nhất từ thuốc lá, rượu, dao cạo, bàn chải, dụng cụ học tập, dụng cụ nấu ăn…hình như em chuẩn bị cho cha con tui, còn em không mua gì. 

Trở về VN trên chuyến bay Boeing 777 với chưa đầy 1/3 số khách em hơi nhún lạnh có thể do thay đổi thời tiết (nhiệt độ tại Sing lúc đó 33 độ C), trên chuyến bay chiều em có vẻ rả rời, em nằm trên ghế thu người hết cở, tôi đắp chăn và khuyên em vào giấc ngủ sâu với hành trình bay về Hà Nội là 3g15 phút.
Đến Hà Nội với cái lạnh 11 độ và mưa rả rích, bắt taxi đi tìm Khách sạn gần BV và ổn định chỗ ở, em quyết đưa tôi đi ăn lẫu gà ở Cầu Giấy để quên đi cái khẩu vị thuốc bắc ở Sing. “Đi bộ cho vui đi ah” và chúng tôi ăn chưa đến 1/5 con gà dưới đêm mưa Xuân và cái lạnh thấu xương ở Hà Nội…Đêm về mệt lả bỏ hết sau lưng để lặn sâu trong giấc ngủ. Ngày mai bắt taxi để tìm người trợ giúp nhập viện cho tiện.
Ngày đầu tiên đến Viện huyết học và truyền máu Trung ương, người chúng tôi gặp đầu tiên là Viện phó Bạch Quốc Khánh, anh hỏi qua bệnh tình, thuốc thang đang dùng và xem hồ sơ bệnh án ở Singapore rồi anh bảo ngày mai đến làm thủ tục rồi lên gặp ah nhé. Thế là chúng tôi được ưu tiên bố trí về Khoa điều trị tích cực. Viện phó là trưởng khoa, 2 bác sĩ trẻ Bảo Anh và Minh Nhựt điều trị trực tiếp và như vậy chúng tôi chính thức gia nhập “Hội truyền máu”…sống chung với đại gia đình “ma cà rồng” ở mọi lứa tuổi và tập thói quen coi “chia lìa là chuyện hiển nhiên”. Gia nhập hội nước chè, thuốc lào 2 ngàn đồng một ly, cứ đêm xuống là tập trung để đọc chỉ số máu… 

Mỗi lần vào hóa chất em lại quá sức chịu đựng người co giật và sốt liên miên, mắt đờ và đục, tay chân như có chuột rúc vào trong, miệng lỡ loét và tóc dần rụng, thân hình teo lại nhưng mặt nũi lại húp lên. Tôi như người chăm trẻ chưa biết lật, chăm già để xoa bóp chân tay, kể chuyện vui để quên đi cái đau đớn mà bệnh tình hành hạ của em… ở đây mọi thứ đều là dịch vụ thậm chí mua cả sự ưu tiên, sự ân cần của điều dưỡng, mua một sự quan tâm đặc biệt của bác sĩ để có sự an tâm mà bước…bước qua đợt 2 với nụ cười của bác sĩ em dần hồi phục… với bản tính không chịu ngồi yên em lại về nghĩ ngơi để tiếp tục hóa trị đợt 3. Đến nhà việc đầu tiên là em tiếp nối dự định làm nhà mới, tôi khuyên em nên dừng, nhưng em chỉ nói đời em chịu cực chịu khổ để dành dụm làm nên căn nhà dù có chết em cũng muốn nhìn nó hình thành trước khi chết. Tôi không cãi em mặc dầu rất biết muôn vàng khó khăn sẽ đến, nhưng để em vui tôi quyết định khởi công xây nhà lần thứ hai trong đời, ngày khởi công, em đi Hà Nội để tiếp tục hóa trị lần 3, “một mình lo 7 lo 3” tôi hết con cái, nhà cửa, công việc lại ngóng về em mà lòng như có lửa đốt…

Hóa trị đợt 4 em bị nhiễm trùng miên mang tôi bỏ hết việc nhà, cứ mỗi lần em như vậy tôi liền ôm áo quần cứ ra thẳng sân bay để tìm chuyến bay sớm nhất. Cứ thế đứng ngồi không yên, có khi chờ cả buổi mới có vé, bụng dạ đầy kiến lửa, dù vất vả đến mấy nhưng mỗi khi ra đến bên giường bệnh em tỉnh lại thấy tôi em cười rất tươi, lòng tôi thấy tự mãng, hơn lúc nào hết em rất cần tôi bênh cạnh, nhưng em cũng biết rằng tôi vừa phải lo xây nhà, con cái còn nhỏ phó mặc cho sự rũi may ở cái công trường ngỗn ngang nhà cửa, cứ thế em lại thương hại cho tôi…

Sống ở cái viện này chứng kiến rất nhiều những khoảnh khắc chia lìa trong lòng cứ thường trực nỗi lo. Nhìn thấy bệnh nhân xung quanh cứ lần ra đi, hôm nay nói cười, ngày mai rê rĩ, quoằn quại chốc lác rồi lìa đời, cuộc sống ở đây vô thường và cứu rỗi, cũng mong cho em bình an, tôi thật sự khủng hoảng niềm tin bèn tìm đến tâm linh cầu trời Phật gia hộ, gõ cửa chùa cầu mong từ bi cứu rỗi cho một mạng người đang phó mặc sự sống cho rũi may. Tôi đi bất cứ nơi đâu, làm bất cứ điều gì, lục tìm ngong ngóng từng thông tin, lên tận Ba Vì để gùi mớ lá của người Dao, 1g đêm phải đi cầu an cho em…và chỉ như thế mới thấy bình an trong thân tâm…

Thời gian trôi, nhà cửa tương đối hoàn chỉnh, dẫn em xem khắp nhà với một mớ “ý kiến chỉ đạo” sửa lại, tôi gật đầu, em yên tâm sẽ theo ý em. Thế rồi, sức chịu đựng có hạn, em dần dần đứng không vững, sống hoang mang, nghe ngóng, ưa về nhà để gần con cái, nhưng về rồi mỗi khi sốt thì lại phải chạy ngay vào BV Đa Khoa Đà Nẵng, lại liên hệ chạy tìm người cho máu. Cứ thế hai bệnh viện như là nhà, em về lại nhà là nhập viện ngay. Em bị nhiễm trùng phổi, nấm mọc trắng miệng, em thích tôi lấy bông ngoáy những nơi nấm mọc, nhìn mặt em có vẻ thích thú, tôi giống như thợ hớt tóc đang ngoáy miệng.
Lần cuối cùng bác sĩ Đa khoa thông báo, bệnh nhân bị đa nhiễm trùng, xuất huyết nhiều nơi, cứ truyền máu liên tục, BV không có đủ cơ số máu, “ngân hàng máu sống” thì huy động không kịp thời em nên ra Hà Nội lại cho kịp. Nhưng thân tâm tôi biết đây là lần cuối cùng vì em đã suy tủy hoàn toàn, khó mà hồi phục lại, tôi đưa em đi trong tâm thái vô vọng, đến bệnh sau khi chụp phim, xét nghiệm BS Bảo Anh cho tôi biết “chị yếu quá, rất khó qua, bệnh chính thì nằm trong tầm soát nhưng chị bị nhiễm trùng nặng, xuất huyết nội, phổi nấm tràn dịch…” Có lẽ ah đưa chi về, tôi như chết lặng không biết nói gì hơn, đêm về tâm sự rất nhiều với em nhưng tôi không dám nói là em sẽ đi bất cứ lúc nào. Nằm bên, tôi cứ thao thức mãi, chốc lát lại sờ vào ngực để tìm nhịp đập, sờ vào mũi để biết hơi thở còn lại với em. Ngày hôm sau bác sĩ thăm bệnh nói bóng gió, em hiểu ngay hơi thở của em chỉ tính được từng ngày. Đêm đó tôi thao thức mãi em cũng vậy, em bảo tôi “anh chợp mắt xíu đi, em không ngủ được, có gì em béo anh dậy nha”. Đêm đó em chuẩn bị mọi thứ, trời chưa kịp sáng em béo tôi dậy, mắt cay xè nhưng vẫn nhìn được nụ cười rất tươi của em , tôi ngạc nhiên thì em đưa bàn tay đầy những vết kim châm cho tôi nắm và nói nhỏ: Chúc ah ngày mới tốt lành, chúc mừng sinh nhật anh, em chuẩn bị rồi, mọi thứ, bánh kẹo, sữa có đây, chúng ta mừng sinh nhật anh nhé. Ok em! chúc em chóng khỏe, em bậc khóc nói trong trong tiếng nấc, em không còn cơ hội để chăm sóc cho cha con anh nữa, anh đừng buồn mà hãy cố gắng nuôi dạy con cái cho trưởng thành. Có lẽ duyên mình đến đây đã cạn và cứ thế sinh nhật với nụ cười chìm trong nước mắt. Sinh nhật cuối cùng em tổ chức cho tôi trong chóng vách, rồi chúng tôi dọn dẹp để ra sân bay, em đi không được nữa rồi, tôi dìu em qua cổng sân bay, mong rằng đừng có việc gì, lúc đó tôi sợ nhất người ta không cho em lên máy bay, biết thế em cố lê bước qua trạ kiểm soát, vào được cổng khi di chuyển lên máy bay tôi phải cõng em dưới cái nhìn của nhiều hành khách đi cùng, họ hỏi tôi cô ấy sao thế, tôi chỉ biết trả lời là bị gãy chân, thế rồi em cũng về được đến nhà, về nhà mới và lại nhập viện em ở viện được 2 đêm, sáng đó tôi về nhà để lo mọi thứ ở nhà, trưa đem nước và cháo lên thì phát hiện em đã miên mang, sốt cao, co giật làm rớt dây truyền máu ra ngoài, máu chảy lai láng, bác sĩ đã lắt đầu, biết không qua khỏi tôi đưa em về nhà lúc đó khoảng 3g, mọi người tập trung đông đủ và bàn tính đủ thứ, tôi như người bị bệnh đao. Thế rồi, trước khi trả lại hơi thở cho đời, em lại rất tỉnh táo, uống hết chén sữa, đi vệ sinh xong em bình thảng trút hơi thở cuối cùng, kết thúc 8 tháng trời vật vã…

- Tôi nhớ nhất lúc em cùng tôi du lịch bất đắc dĩ ở Singapore em luôn cười và luôn chủ động gây cười.
- Tôi nhớ nhất những lúc em hồi phục, 2 đứa dạo tìm cà phê, quán phở, quán cơm ở Cầu Giấy..
- Tối nhớ nhất những lần đi rút tiền ngân hàng mà em không dám ngất mặt lên, đi siêu thị để mua mọi thứ linh tinh, đi chùa để cầu an, trước Quan Âm Bồ Tát em chỉ biết van xin cho con được sống để trả nợ kiếp.
- Tôi nhớ nhất bóng dáng liêu xiêu mỗi khi em khập khễnh bước ra sân bay, tiễn em đi như đưa em vào khoảng không hư vô…
- Tôi nhớ nhất thằng con trai vừa ngủ dậy chạy đôn đáo để tìm tôi và hỏi mẹ đi đâu rồi ba…?!
- Tôi nhớ nhất những ngày em đi, trưa đi làm về nhìn bếp nhà lạnh lẽo, em đâu rồi, tại sao lại vậy …
Hôm nay 1-8 (AL), ngày Đại Tường, tròn 2 năm em mất, với 3 ngày tụng niệm cầu mong chư Phật tiếp dẫn, cầu mong thân tâm an lạc, càu mong hương linh siêu thoát…

Trong lúc khốn khó, tôi xin chân thành gởi lời cảm ơn đến:

Bạn Soi Truong Soi và anh Lê Hải 2 người đến thăm, biết chuyện chốc hết ví ủng hộ chúng tôi làm lộ phí đi đường, cảm ơn bàn cà phê chào buổi sáng, cảm ơn chị Kim Huynh và ACE VP đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ gia đình tôi, cảm ơn chị Kim Ngân Võ người luôn đồng hành từ khi phát bệnh đến lúc mất và tin nhắn cuối cùng em tôi gởi đến cho chị là: Chị ơi, bác sĩ họ chạy rồi chắc em phải về, và nhận tin nhắn cuối cùng từ thuê bao của chị, chi an ủi: Họ chạy mình về tự chữa, tự tìm thuốc thôi em, em cố lên nhé…!

Cảm ơn ACE Văn phòng báo NLĐ tại Đà Nẵng và đặc biệt anh Han Tranđồng hành và giúp đỡ chúng tôi cho đến khi em về cõi vĩnh hằng…
Cảm ơn 2 bạn thân thiết nhất Thu Hong, Hellen Le Hellen luôn giành sự quan tâm đặc biệt nhất cho gia đình tôi.

Cảm ơn bạn Thuc Minh đã tận tình giúp đỡ chúng tôi khi chúng tôi còn bơ vơ nơi đất khách.
Cùng tất cả các cô chú bác 2 bên, anh chị em, đồng nghiệp, bạn bè thâm quyến… cảm ơn tất cả mọi người, xin mọi người bỏ qua những gì chúng tôi sơ xuất…
Em vừa đi
(Tặng TCS)
Em vừa rời bước đi thôi
Cánh cửa còn bỏ ngỏ
Khuất bóng em rồi
Nắng ngưng trên vách
Sững sờ em
Rạng rỡ nụ cười
Cái vẫy tay, mắt nhìn láu lỉnh.
Em vừa rời bước đi thôi
Thấp thoáng vòm cây
Bóng em đầy nắng
Thương nhớ gieo trồng còn để lại đây.
Ngôi nhà ấm hơi em
Cánh cửa nhỏ in dấu tay em vịn
Ấm nước sôi chờ tắt lửa em về
Nhà vắng lặng đợi em giòn tiếng...
Phải em không ?
Bóng lướt qua rất vội
Cổng khép hờ như khẽ lay lay
Bước chân thoảng gió bên hè
Giọt nắng xiên trên vách...
Em về nhóm lửa cùng anh ?
VKN- 30.10.2012.

14.3.18

GẠC MA - CÔ LIN - LEN ĐAO 14-3-1988

TOÀN CẢNH TRẬN CHIẾN GẠC MA - CÔ LIN - LEN ĐAO
Trần Đức Anh Sơn

1. Quần đảo Trường Sa trước trận chiến Gạc Ma - Cô Lin - Len Đao

Sau khi tiếp quản quần đảo Trường Sa từ Việt Nam Cộng hòa vào đầu tháng 5/1975, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (sau đó là Cộng hòa XHCN Việt Nam) tiếp tục thực thi chủ quyền trên quần đảo này. Từ năm 1976, cùng với việc thường xuyên tăng cường lực lượng, vũ khí và phương tiện quân sự cho công tác phòng thủ các đảo, Hải quân Việt Nam đã bắt đầu triển khai xây dựng và củng cố các công trình phòng thủ (công sự, trận địa, hầm hào chiến đấu, đài quan sát, sở chỉ huy…) trên các đảo thuộc quần đảo Trường Sa.

Ngày 14/7/1978, Bộ Quốc phòng nước Cộng hòa XHCN Việt Nam ra Quyết định số 478/QĐ-QP, thành lập căn cứ Cam Ranh - Sư đoàn 402, thuộc Bộ Tư lệnh Quân chủng Hải quân; với nhiệm vụ xây dựng sở chỉ huy của căn cứ đủ sức bảo đảm cho Bộ Tư lệnh Quân chủng Hải quân có thể chỉ huy được lực lượng của mình và chỉ huy tác chiến quân binh chủng hợp thành khi xảy ra chiến đấu ở khu vực Trường Sa.

Về vận chuyển chi viện cho Trường Sa, từ tháng 3 đến tháng 8/1977, Đoàn 125 (Hải đoàn 125) đã chở 2.630 tấn hàng, vật liệu xây dựng cùng với Hải đội 171 hoàn thành kế hoạch vận chuyển 3.730 tấn hàng cho 5 đảo: Trường Sa, Sinh Tồn, Nam Yết, Song Tử Tây và Sơn Ca, phục vụ cho bộ đội phòng thủ đảo và xây dựng các công trình quân sự ở đây.

Trước tình hình Philippines đưa quân chiếm đóng bất hợp pháp bãi An Nhơn và tăng cường hoạt động thăm dò, trinh sát trái phép quanh các khu vực đảo của ta đã đóng giữ (tháng 3/1978), nhằm bảo vệ vững chắc chủ quyền biển đảo, Hải quân Việt Nam đã đưa lực lượng ra đóng thêm một số đảo thuộc quần đảo Trường Sa để tăng cường khả năng củng cố phòng thủ bảo vệ quần đảo này.
Một mặt, Hải quân Việt Nam tập trung các lực lượng tàu vận tải, tàu đánh cá, lực lượng bộ binh của Trung đoàn 146, bộ đội đặc công của Lữ đoàn 126, Trung đoàn Công binh 83 ra chốt giữ bảo vệ các đảo: Trường Sa Đông (Đá Giữa), An Bang, Phan Vinh (Hòn Sập) và Sinh Tồn Đông; mặt khác, chỉ thị cho các đơn vị đang đóng giữ bảo vệ đảo đẩy mạnh các hoạt động huấn luyện, quan sát nắm chắc tình hình trên biển, sẵn sàng chiến đấu và đánh thắng ngay từ trận đầu khi địch có những hành động vũ lực xâm phạm chủ quyền đối với các đảo.

Theo đó, ngày 10/3/1978, một phân đội của Lữ đoàn 126 đã đổ bộ lên đảo An Bang. Ngày 04/4, 19 cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 146 ra đóng giữ, bảo vệ đảo Trường Sa Đông. Từ tháng 3 đến tháng 5/1978, các tàu HQ 605, HQ 601, HQ 681, HQ 606 đã hoàn thành nhiệm vụ vận chuyển bộ đội ra chốt giữ, bảo vệ và xây dựng công trình phòng thủ trên các đảo: Trường Sa Đông, An Bang, Phan Vinh, Sinh Tồn Đông và bãi đá Thuyền Chài.

Trong bối cảnh đất nước còn bộn bề khó khăn sau khi trải qua chiến tranh chống Pháp, chống Mỹ, giúp Campuchia thoát nạn diệt chủng và chiến tranh biên giới 1979 hao người tốn của, Việt Nam vẫn tập trung mọi nguồn lực có thể để củng cố khả năng phòng thủ để bảo vệ quần đảo Trường Sa của Tổ quốc.
Năm 1978, Hải đoàn 125 đã vận chuyển 17.763 tấn hàng hóa, vũ khí và 5.372 lượt người phục vụ nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Trường Sa. Đây là khối lượng hàng và người lớn nhất chi viện cho bộ đội bảo vệ chủ quyền quần đảo Trường Sa kể từ tháng 4/1975.


Tháng 11/1980, hai tàu HQ 612 và HQ 616 trực bảo vệ Trường Sa đã nêu cao cảnh giác, phát hiện và đối phó kịp thời và hiệu quả với hành động xâm nhập vây ép đảo An Bang của lực lượng quân sự nước ngoài, giữ vững an ninh, chủ quyền đảo.

Từ năm 1980, Hải quân thực hiện giai đoạn 2 xây dựng quần đảo Trường Sa (1980 - 1985), tăng cường biên chế, trang bị và xây dựng hệ thống công trình chiến đấu kiên cố, vững chắc trên quần đảo nhằm nâng cao một bước có tính chất cơ bản, lâu dài khả năng chiến đấu phòng thủ đảo. 

Cũng năm 1980, Lữ đoàn 125 đã vận chuyển 7.000 tấn; năm 1981, vận chuyển 6.532 tấn nguyên vật liệu xây dựng, vũ khí, trang bị kỹ thuật quân sự và 1.252 lượt cán bộ, chiến sĩ thay phiên nhau luân chuyển ra bảo vệ và xây dựng ở quần đảo Trường Sa. Đặc biệt, để tăng cường sức mạnh sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu thắng lợi trong mọi tình huống, từ năm 1980, chúng ta khẩn trương bổ sung vũ khí, phương tiện quân sự cho lực lượng phòng thủ bảo vệ các đảo thuộc quần đảo Trường Sa.
Năm 1982, đã vận chuyển được 19.577 tấn hàng và 5.105 lượt người từ đất liền ra đảo và từ đảo về đất liền an toàn tuyệt đối. Năm 1983, là 14.946 tấn hàng và 4.618 lượt người, năm 1984 là 2.970 tấn. Bước sang năm 1985, trước yêu cầu cấp bách của yêu cầu bảo vệ chủ quyền lãnh thổ ở Trường Sa, Bộ Quốc phòng quyết định đưa gấp một khối lượng lớn vũ khí, trang bị kỹ thuật, vật liệu xây dựng ra tăng cường sức mạnh chiến đấu quần đảo.

Lữ đoàn 125 đã hiệp đồng, phối hợp chặt chẽ với các đơn vị thuộc Vùng 4 Hải quân, Cục Kỹ thuật, Cục Hậu cần, Phòng Công trình triển khai các bước giao nhận, vận chuyển, bảo đảm các mặt… nên chỉ trong thời gian từ tháng 3 đến tháng 7, đã vận chuyển được 3.885 tấn hàng quân sự, 573 lượt người (đạt 111% kế hoạch).

Sang năm 1986, theo chỉ thị của Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng, Quân chủng Hải quân triển khai tiếp kế hoạch 5 năm 1986 - 1990 vận tải chi viện quần đảo Trường Sa, nhằm tiếp tục xây dựng cơ bản, lâu dài, kiên cố các công trình phòng thủ và tăng cường sức mạnh bảo vệ đảo. Thực hiện nhiệm vụ cấp bách này, ngay trong năm 1986, Quân chủng đã khắc phục khó khăn về phương tiện hiện có trong biên chế, vận chuyển được 2.604 tấn hàng và 970 lượt người ra Trường Sa an toàn.
Song song với thiết lập chủ quyền và bố trí lực lượng phòng thủ các đảo thuộc quần đảo Trường Sa mà đã tiếp quản từ chính quyền Việt Nam Cộng hòa, Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (sau đó là Cộng hòa XHCN Việt Nam) tiếp tục đấu tranh pháp lý với chính phủ các nước hiện đang chiếm giữ trái phép các đảo và quần đảo thuộc chủ quyền của Việt Nam.
Từ sau ngày đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam (tháng 01/1974), Trung Quốc tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động chính trị, ngoại giao, pháp lý, hành chính và quân sự để đánh chiếm quần đảo Trường Sa.
Từ cuối năm 1986, giả dạng các tàu đánh cá, tàu nghiên cứu, Trung Quốc đẩy mạnh các hoạt động xuống vùng biển phía nam, tăng số lần tàu chiến, tàu vận tải hoạt động trinh sát, thăm dò ở khu vực Trường Sa. Đặc biệt là từ ngày 24 đến 30/12/1986, máy bay và tàu chiến của Trung Quốc tiến hành các hoạt động trinh sát từ đảo Song Tử Tây đến đảo Thuyền Chài, gây căng thẳng trên vùng biển của Việt Nam.
Đầu năm 1987, Trung Quốc tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động ngoại giao và tăng cường đưa tàu chiến đi lại gần khu vực đảo Thuyền Chài. Trung Quốc đã đưa tàu Hải Dương 4 tiến hành trinh sát phần lớn các đảo thuộc quần đảo Trường Sa, trong đó có cả những đảo ta đang chốt giữ; tăng cường số lượt tàu qua lại khu vực các đảo An Bang, Thuyền Chài, Trường Sa, Trường Sa Đông, Song Tử Tây, có lúc chỉ cách ta khoảng một hải lý để thị uy. Trung Quốc sử dụng lực lượng hải quân khảo sát địa chất bất hợp pháp trên vùng biển quần đảo Trường Sa, tìm vị trí xây dựng được một trạm quan trắc hải dương theo yêu cầu của tổ chức khí tượng - hải dương thế giới; đồng thời tăng cường các hoạt động xâm nhập, khai thác trái phép tài nguyên vào sâu vùng biển của ta. Cũng thời kỳ này, Malaysia đưa lực lượng chiếm giữ bất hợp pháp các bãi đá Kỳ Vân và Kiệu Ngựa ở phía nam quần đảo Trường Sa.

2. Phản ứng của Việt Nam trước trận chiến Gạc Ma - Cô Lin - Len Đao

Trước tình hình các nước tăng cường tranh chấp ở quần đảo Trường Sa, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương đã chỉ thị cho Quân chủng Hải quân đưa lực lượng ra củng cố, giữ vững các đảo đang chốt giữ, tăng cường thế phòng thủ các đảo theo từng cụm, từng khu vực, bảo đảm khi có chiến sự xảy ra có thể chi viện hỗ trợ kịp thời giữ vững đảo; đưa lực lượng đóng giữ một số bãi đá ngầm trong khu vực quần đảo Trường Sa. 

Đầu năm 1987, Quân chủng Hải quân tổ chức lực lượng đóng giữ bãi cạn, đá ngầm Thuyền Chài (tháng 3/1987), tiếp đó, tổ chức xây dựng kế hoạch bảo vệ quần đảo Trường Sa 3 năm (1988 - 1990).
Xác định Trung Quốc có âm mưu thôn tính các đảo phía tây quần đảo Trường Sa và chiếm đóng xen kẽ vào các cụm đảo do lực lượng hải quân của ta đang đóng giữ, nhằm thiết lập tuyến ngăn chặn các hoạt động của ta từ đất liền đến các đảo thuộc quần đảo Trường Sa, Bộ Tư lệnh Hải quân đã đề ra kế hoạch triển khai lực lượng đóng giữ trên 11 bãi cạn, đá ngầm, cụ thể: Năm 1988, đóng giữ 4 vị trí: Đá Tây, Chữ Thập, Đá Lớn và Tiên Nữ; năm 1989, đóng giữ tiếp các bãi: Đá Thị, Tốc Tan, Đá Lát, Ga Ven, Đá Đông, Châu Viên và Núi Le. 

Ngày 06/11/1987, Bộ Quốc phòng chính thức phê chuẩn kế hoạch tác chiến trên và ban hành Mệnh lệnh số 1679/ML-QP, giao nhiệm vụ cho Bộ Tư lệnh Quân chủng Hải quân: “Đưa lực lượng ra đóng giữ các bãi cạn chưa có người, không chờ xin chỉ thị của cấp trên, trước mắt đưa ngay lực lượng ra đóng giữ Đá Tây, Chữ Thập, Đá Lớn, Tiên Nữ” 

Ngay sau đó, Bộ Tư lệnh Quân chủng Hải quân ra lệnh chuyển trạng thái sẵn sàng chiến đấu đối với lực lượng bảo vệ các đảo thuộc quần đảo Trường Sa; đồng thời chỉ thị cho Lữ đoàn 125, Lữ đoàn 172, Trung đoàn 83 vào trạng thái sẵn sàng chiến đấu, chuẩn bị lực lượng, phương tiện, sẵn sàng cơ động chiến đấu, ra xây dựng các công trình phòng thủ trên các bãi đá ta mới đóng giữ; điều chuyển một số tàu thuộc các lữ đoàn 146, 125 đưa bộ đội đến tăng cường lực lượng đóng giữ các đảo thuộc quần đảo Trường Sa. 

Trên cơ sở báo cáo của Bộ Tổng Tham mưu và Quân chủng Hải quân về diễn biến tình hình ở quần đảo Trường Sa, Bộ Chính trị đã ra Nghị quyết 06-NQ/TW ngày 30/11/1987, về đấu tranh bảo vệ chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Sau khi có Nghị quyết của Bộ Chính trị, Quân chủng Hải quân tăng cường lực lượng, xây dựng thế trận phòng thủ trên các đảo và vùng biển phía Nam. Quân chủng tăng cường thêm phương tiện cho Vùng 4 Hải quân, bảo vệ vị trí neo đậu cho tàu thuyền tại khu vực giàn khoan. Hàng ngày duy trì 2 tàu bảo vệ khu vực khai thác dầu khí, bảo vệ an toàn cho công tác thăm dò và khai thác dầu khí. Hoạt động tuần tiễu ở khu vực giàn khoan của lực lượng Hải quân lúc cao nhất có 6 tàu của Lữ đoàn 171 và Hải đoàn 129. Một số tàu đánh cá đến hoạt động trái phép ở khu vực thềm lục địa, hoặc tàu lạ xuất hiện bị Hải quân ta ngăn chặn xua đuổi, bảo vệ an toàn cho các hoạt động thăm dò, khai thác tài nguyên thiên nhiên trong các vùng biển và thềm lục địa của Việt Nam.
Đầu tháng 01/1988, nhận thấy tình hình khu vực quần đảo Trường Sa có chiều hướng phức tạp, Hải quân Việt Nam xác định, nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền vùng biển và quần đảo Trường Sa là nhiệm vụ quan trọng nhất, khẩn trương nhất và cũng là vinh dự của Quân chủng; tranh thủ thời gian, triển khai lực lượng đóng giữ trên các đảo, hoàn thành kế hoạch đóng giữ các đảo trong ba năm (1988 - 1990) ngay trong năm 1988…; đồng thời tăng cường số lần hoạt động tuần tiễu, bảo vệ vịnh Bắc Bộ, vùng biển Tây Nam. 

Bộ Tư lệnh Quân chủng Hải quân ra lệnh điều động lực lượng tàu, bộ đội công binh và lực lượng của cơ quan chuyển vào Cam Ranh, sẵn sàng đưa bộ đội ra đóng giữ đảo; chỉ đạo các đơn vị làm tốt công tác tư tưởng cho cán bộ chiến sỹ, thực hiện tốt việc di chuyển cơ quan, chỉ đạo triển khai tăng cường thông tin liên lạc ở Cam Ranh, Thành phố Hồ Chí Minh, quần đảo Trường Sa, chú trọng mạng thông tin hiệp đồng quân binh chủng; chỉ đạo bảo đảm hàng hải, thả phao tiêu đánh dấu luồng lạch ở Trường Sa; chỉ đạo công tác vật tư, tài chính, công binh bảo đảm hoàn thành kế hoạch xây dựng công trình, công sự chiến đấu, thiết bị chiến trường ở quần đảo Trường Sa; chỉ đạo tăng cường công tác nắm địch, tăng thêm phương tiện, lực lượng nắm địch, chỉ đạo công tác tuyển quân và huấn luyện chiến đấu.
Tiếp tục các hành động xâm chiếm bất hợp pháp các đảo thuộc quần đảo Trường Sa, ngày 22/01/1988, Trung Quốc đưa 1 tàu hộ vệ tên lửa, 1 tàu tuần dương, 1 tàu dầu, 1 tàu đổ bộ và một số tàu chiến khác đến chiếm đóng bất hợp pháp đảo Chữ Thập. Tiếp đó, họ đã đưa một lực lượng lớn gồm 2 tàu hộ vệ tên lửa, 2 tàu khu trục tên lửa, 4 tàu bảo đảm đậu xung quanh đảo, khống chế không cho tàu thuyền nước ta qua lại để bảo vệ đảo Chữ Thập.

Hải quân Trung Quốc còn tổ chức các cụm tuyến hoạt động gồm: cụm thứ nhất lấy Hoàng Sa, mà Trung Quốc đang chiếm đóng bất hợp pháp từ 1974, làm căn cứ thường xuyên, có tàu hộ vệ pháo, hộ vệ tên lửa, khu trục tên lửa, tuần dương, các tàu ngầm và tàu hộ tống nhằm ngăn cản, uy hiếp lực lượng tàu Hải quân Việt Nam hoạt động ở vịnh Bắc Bộ, gây khó khăn cho ta trong việc triển khai hoạt động bảo vệ vùng đảo phía Nam; cụm thứ 2 ngăn chân lực lượng Hải quân Việt Nam ở bán đảo Cam Ranh, đảo Phú Quý (Cù lao Thu) và cụm Chữ Thập, âm mưu khống chế Việt Nam ở khu vực Trường Sa, nếu có thời cơ phát triển lực lượng xuống khu vực phía nam Biển Đông.

Trước tình hình trên, ngày 23/01/1988, Bộ Tư lệnh Hải quân đã điều tàu HQ 613 thuộc Vùng 4 Hải quân chở lực lượng và vật liệu ra đảo Tiên Nữ. Mặc dù phải qua hai ngày vượt sóng to, gió lớn, nhưng khi ra đến đảo, bộ đội đã nhanh chóng xây dựng công sự, nhà ở vững chắc để đảm bảo sinh hoạt cho cán bộ, chiến sĩ giữ đảo.

Tiếp đó, ngày 27/01/1988, Bộ Tư lệnh Hải quân quyết định đưa các tàu HQ 611 và HQ 712 chở 1 đại đội công binh và hai khung đảo của Lữ đoàn 146 đến chiếm giữ đảo Chữ Thập. Ngày 29/01, tàu bị hỏng máy phải dừng lại sửa chữa. Sáng ngày 30/01, khi cách đảo 5 hải lý, thì phát hiện 4 tàu chiến Trung Quốc, gồm 2 tàu hộ vệ tên lửa, 2 tàu hộ vệ pháo ra ngăn cản, có lúc chỉ cách 300 m, không cho tiếp cận đảo, tàu phải quay về Trường Sa Đông, không thực hiện được việc đóng giữ đảo Chữ Thập như kế hoạch đề ra. 

Ngày 04/02/1988, Hải quân Việt Nam nhận định: Trung Quốc đã chiếm đóng bất hợp pháp trên đảo Chữ Thập, họ có thể mở rộng phạm vi chiếm đóng sang các đảo Châu Viên, Đá Đông, Đá Nam, Tốc Tan và đóng xen kẽ những bãi đá ta đang đóng giữ. Trước mắt, ta chưa đưa quân ra đóng xen kẽ ở đảo Chữ Thập vì họ ngăn chặn ta từ xa. Do đó, ta phải nhanh chóng đưa lực lượng ra đóng giữ Đá Lát, Đá Lớn, Châu Viên.
Bộ Tư lệnh Quân chủng Hải quân thành lập Sở chỉ huy tiền phương Quân chủng tại Cam Ranh, do đồng chí Giáp Văn Cương làm Tư lệnh, kiêm Tư lệnh Vùng 4 để chỉ huy các cơ quan, đơn vị kịp thời giải quyết mọi mặt theo yêu cầu đóng giữ, bảo vệ Trường Sa và DK1
.
Triển khai nhiệm vụ đưa lực lượng ra đóng giữ đảo, tàu HQ 611 và tàu HQ 712 đưa lực lượng công binh và bộ đội của Lữ đoàn 146 đến đảo Đá Lát. Bộ đội phân chia lực lượng thành 3 tổ chiến đấu canh gác, đồng thời tổ chức lực lượng làm nhà cấp ba. Đến ngày 20/02, lực lượng công binh được sự hỗ trợ của lực lượng đóng giữ đảo hoàn thành nhà và bàn giao cho cho lực lượng bảo vệ đảo.

Ngày 13/02, Lữ đoàn 125 cho tàu HQ 505 kéo tàu LCU 556 cùng bộ phận làm nhà cao chân đóng giữ đảo Đá Lớn. Trong khi ta đang tiến về phía đảo, thì phát hiện tàu khu trục và hai tàu hộ vệ tên lửa của Trung Quốc cũng tiến về phía Đá Lớn. Các tàu này đã có những hành động ngăn cản, uy hiếp tàu của ta. Tàu HQ 505 bình tĩnh khôn khéo đưa tàu LUC 556 tiếp tục tiến về phía bắc của đảo. 

Ngày 20/02, sau khi quan sát thăm dò luồng, tàu HQ 556 tiến vào phía vào phía nam đảo an toàn. Tiếp đó, tàu Đại Lãnh của Công ty trục vớt cứu hộ Sài Gòn kéo tàu HQ 582 và pông-tông Đ02, xuất phát từ thành phố Hồ Chí Minh, đến ngày 01/3, vào đến vị trí phía bắc đảo Đá Lớn. Cán bộ, chiến sĩ trên pông-tông Đ02 và lực lượng trên tàu LCU đã đến triển khai lực lượng, xây dựng thế trận phòng thủ bảo vệ đảo Đá Lớn.

Tháng 02/1988, Trung Quốc tăng thêm 4 tàu hộ vệ tên lửa, hộ vệ pháo xuống hoạt động ở khu vực quần đảo Trường Sa, gây tình hình hết sức căng thẳng. Ngày 18/02, Hải quân Việt Nam xác định: Ta phải kiên quyết đóng nhanh, đóng đồng thời tất cả các đảo đã có kế hoạch. Nếu cần, có thể dùng mọi loại tàu để ủi bãi, không làm như vậy sẽ không ngăn chặn được Trung Quốc tiếp tục mở rộng phạm vi chiếm đóng thêm. 

Giữa tháng 02/1988, Quân chủng Hải quân đã điều động Lữ đoàn 125 đưa pông-tông 07 ra giữ Tốc Tan, đồng thời, đưa lực lượng, phương tiện của Lữ đoàn 146 và lực lượng công binh của Trung đoàn 83 ra xây dựng, cắm cờ, canh gác, chốt giữ đảo Đá Đông, một đảo chìm rộng giữ vị trí quan trọng trong quần đảo.

Trong bối cảnh hải quân Trung Quốc có thể khiêu khích ngăn chặn bất cứ lúc nào, song các tàu của ta đã bình tĩnh vượt qua sóng gió đưa bộ đội và vật liệu đến đảo an toàn. Nhờ sự kết hợp chặt chẽ giữa các lực lượng tàu, đảo, công binh, công việc triển khai lực lượng bảo vệ đảo, xây dựng nhà, công sự đã hoàn thành theo đúng kế hoạch, bảo đảm yêu cầu kỹ thuật. Các tàu HQ 605 và HQ 604 tiếp tục ở lại làm nhiệm vụ bảo vệ vòng ngoài Đá Đông.

Như vậy, đến tháng 03/1988, lực lượng Hải quân Việt Nam đã triển khai xây dựng xong thế trận phòng thủ trên các đảo: Đá Lát, Đá Đông, Tốc Tan, Tiên Nữ và Đá Lớn, đưa tổng số đảo đóng giữ của ta lên 16 đảo, trong đó gồm 9 đảo nổi, 7 đảo chìm.

3. Diễn biến trận chiến Gạc Ma - Cô Lin - Len Đao

Sau khi chiếm giữ trái phép các đảo, đá: Chữ Thập, Châu Viên, Huy gơ (tiếng Anh: Hughes Reef, sau đổi tên là đá Tư Nghĩa), Ga Ven và Xu Bi, quân Trung Quốc tiếp tục chuẩn bị thực hiện ý đồ thôn tính 3 đảo: Gạc Ma, Cô Lin, Len Đao.

Đầu tháng 3/1988, Hải quân Trung Quốc huy động lực lượng của hai hạm đội xuống khu vực quần đảo Trường Sa, tăng số tàu hoạt động ở đây thường xuyên có từ 9 đến 12 tàu chiến, gồm: tàu khu trục tên lửa, 7 tàu hộ vệ tên lửa, 2 tàu hộ vệ pháo, 2 tàu đổ bộ; tàu hỗ trợ gồm 3 tàu vận tải LSM, tàu đo đạc, tàu kéo và một pông-tông lớn.

Trước tình hình đó, ngày 04/3/1988, Hải quân Việt Nam xác định: Trung Quốc có thể chiếm thêm một số bãi cạn xung quanh cụm đảo Sinh Tồn, Nam Yết và khu vực Đông kinh tuyến 115o, trong đó, Gạc Ma giữ vị trí quan trọng, nếu Trung Quốc chiếm giữ sẽ khống chế đường qua lại tiếp tế của ta cho các đảo ta đang chiếm giữ, vì vậy phải quyết tâm đưa bộ đội đóng giữ các đảo: Gạc Ma, Cô Lin và Len Đao.
Triển khai chủ trương trên, ngày 12/3/1988, tàu HQ 605 (Lữ đoàn 125), do đồng chí Lê Lệnh Sơn làm Thuyền trưởng, xuất phát từ đảo Đá Đông đến đóng giữ đảo Len Đao. Sau 29 giờ vượt sóng to, gió lớn, tàu HQ 605 đến đảo Len Đao và cắm cờ Tổ quốc lên đảo (lúc 5 giờ ngày 14/3/1988), khẳng định chủ quyền và quyết tâm bảo vệ đảo của bộ đội ta.

Tiếp đó, 9 giờ ngày 13/3/1988, tàu HQ 604 do đồng chí Vũ Phi Trừ làm Thuyền trưởng và tàu HQ 505 do đồng chí Vũ Huy Lễ làm Thuyền trưởng, xuất phát từ đảo Đá Lớn tiến về đảo Gạc Ma và đảo Cô Lin. Phối hợp với 2 tàu HQ 604 và HQ 505 có 2 phân đội công binh (70 người) thuộc Trung đoàn 83, 4 tổ chiến đấu (22 người) thuộc Lữ đoàn 146, do đồng chí Trần Đức Thông, Phó Lữ đoàn trưởng chỉ huy và 4 chiến sĩ đo đạc của Đoàn đo đạc và biên vẽ bản đồ (Bộ Tổng Tham mưu). 

Sau khi 2 tàu của ta thả neo được 30 phút, tàu hộ vệ của Trung Quốc từ đá Huy Gơ chạy về phía đảo Gạc Ma. Tàu Trung Quốc áp sát tàu HQ 604 của ta, dùng loa gọi sang khiêu khích, thay nhau cơ động, chạy quanh đảo Gạc Ma, uy hiếp lực lượng của Việt Nam. Cán bộ, chiến sĩ 2 tàu HQ 604 và HQ 605 động viên nhau giữ vững quyết tâm không để mắc mưu, kiên trì neo giữ quanh đảo. 

Trước tình hình căng thẳng do Hải quân Trung Quốc gây ra, lúc 21 giờ ngày 13/3, Bộ Tư lệnh Quân chủng Hải quân chỉ thị cho các đồng chí: Trần Đức Thông, Vũ Huy Lễ, Vũ Phi Trừ chỉ huy bộ đội quyết giữ vững các đảo Gạc Ma và Cô Lin; khẩn trương thả xuồng máy, xuồng nhôm, chuyển vật liệu làm nhà lên đảo ngay trong đêm ngày 13/3. Tàu HQ 604 cùng lực lượng công binh Trung đoàn 83 chuyển vật liệu lên đảo Gạc Ma, tiếp đó, lực lượng của Lữ đoàn 146 bí mật đổ bộ, cắm cờ Tổ quốc và triển khai 4 tổ bảo vệ đảo.

Lúc này, Trung Quốc điều thêm 2 tàu hộ vệ trang bị pháo 100 ly đến khu vực đảo Gạc Ma. 6 giờ, ngày 14/3/1988, tàu Trung Quốc thả 3 thuyền nhôm và 40 quân đổ bộ lên đảo tiến vào giật cờ ta. Lập tức, thiếu úy Trần Văn Phương, hạ sĩ Nguyễn Văn Lanh cùng đồng đội dũng cảm giành lại cờ. Lính Trung Quốc đã nổ súng bắn vào bộ đội ta, làm thiếu úy Trần Văn Phương hy sinh, hạ sĩ Nguyễn Văn Lanh bị thương. Mặc dù bị đối phương uy hiếp và nổ súng tấn công, nhưng bộ đội ta vẫn kiên cường đấu tranh bảo vệ chủ quyền hải đảo của Tổ quốc.

Không ép được lực lượng Việt Nam rút khỏi đảo, 7 giờ 30 phút ngày 14/3, 2 tàu Trung Quốc bắn pháo 100 ly gây hỏng nặng tàu HQ 604 của Việt Nam, rồi bất ngờ cho quân xông về phía tàu ta. Thuyền trưởng Vũ Phi Trừ đã bình tĩnh chỉ huy bộ đội trên tàu sử dụng các loại súng AK, RPĐ, B40, B41 đánh trả quyết liệt. Trận đánh diễn ra mỗi lúc thêm ác liệt. Tàu Trung Quốc tiếp tục nã pháo dồn dập làm tàu ta bị thủng nhiều lỗ và chìm dần xuống biển. Thuyền trưởng Vũ Phi Trừ, Phó Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 146 Trần Đức Thông và cùng một số cán bộ, chiến sĩ tàu đã anh dũng hy sinh cùng tàu HQ 604 ở khu vực đảo Gạc Ma.

Tại đảo Cô Lin, 6 giờ ngày 14/3/1988, tàu HQ 505 đã cắm 2 lá cờ lên đảo. Khi tàu HQ 604 của Việt Nam bị chìm, thuyền trưởng tàu HQ 505 Vũ Huy Lễ ra lệnh nhổ neo ủi bãi. Phát hiện thấy ta cơ động lên bãi, 2 tàu của Trung Quốc quay sang tiến công tàu HQ 505. Bất chấp hiểm nguy, tàu HQ 505 chạy hết tốc độ, trườn lên được 2/3 thân tàu thì bốc cháy. 

8 giờ 15 phút ngày 14/3, bộ đội trên tàu HQ 505 vừa tiến hành dập lửa cứu tàu, bảo vệ đảo, vừa đưa xuồng đến cứu vớt cán bộ, chiến sĩ của tàu HQ 604 vừa bị Trung Quốc đánh chìm. Cán bộ, chiến sĩ của tàu HQ 505 đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền ở đảo Cô Lin.
Ở hướng đảo Len Đao, 8 giờ 20 phút ngày 14/3, tàu Trung Quốc bắn chìm tàu HQ 605 của Việt Nam. Cán bộ, chiến sĩ của tàu HQ-605 phải dìu nhau bơi về đảo Sinh Tồn (đến 6 giờ ngày 15/3 mới lên đến đảo).

Trong trận chiến đấu ngày 14/3/1988, mặc dù tương quan lực lượng chênh lệch, phương tiện vũ khí hạn chế, cán bộ và chiến sĩ Hải quân Nhân dân Việt Nam đã chiến đấu dũng cảm, không quản hy sinh, quyết tử đến cùng để bảo vệ chủ quyền hải đảo của Tổ quốc: 3 đồng chí hy sinh, 11 đồng chí bị thương, 70 đồng chí bị mất tích (sau này, Trung Quốc trao trả cho Việt Nam 9 người, còn 61 người mất tích), 3 tàu bị bắn cháy và chìm.

Trận hải chiến Gạc Ma - Cô Lin - Len Đao đã đi vào lịch sử chiến tranh chống Trung Quốc xâm lược như một biểu tượng của tinh thần quả cảm và sự hy sinh anh dũng của Hải quân và công binh Việt Nam.
Sau này, Chủ tịch nước Cộng hòa XHCN Việt Nam tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân các tập thể và cá nhân sau: Tàu HQ 505 thuộc Lữ đoàn 125 Hải quân (8/1/1989); Tàu HQ 931 thuộc Hải đội 413 Lữ đoàn 955 Vùng 4 hải quân (13/12/1989); Vũ Huy Lễ, Thuyền trưởng tàu HQ 505 (6/1/1989); Liệt sĩ Trần Văn Phương, Chỉ huy phó đảo Gạc Ma, Lữ đoàn 146 Hải quân (6/1/1989); Liệt sĩ Trần Đức Thông, Phó Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 146 (3/12/1989); Liệt sĩ Vũ Phi Trừ, Thuyền trưởng tàu HQ 604, Lữ đoàn 125 Hải quân (3/12/1989); Nguyễn Văn Lanh, Tiểu đội trưởng, Trung đoàn 83 Hải quân (3/12/1989). Ngoài ra còn có hàng chục tập thể và cá nhân được tặng thưởng Huân chương Quân công, Huân chương Chiến công các loại.

(Tổng hợp từ nhiều nguồn tư liệu trên internet)

1.3.18

Hồi ký của NS. NGUYỄN VĂN ĐÔNG

BA LÔ,CÂY ĐÀN và MỐI TÌNH HỌC TRÒ CỦA SÀi GÒN THƯƠNG NHỚ

Vào năm 1956, đơn vị tôi đóng quân ở Chiến khu Đồng Tháp Mười, được xem là mặt trận tiền tiêu nóng bỏng vào thời bấy giờ. Khi ấy, tôi mang cấp bực Trung úy, mới 24 tuổi đời, còn bạch diện thư sinh. Tuy hồn vẫn còn xanh nhưng tâm tình đã nung trong lửa chín ở quân trường. Chính tại Đồng Tháp Mười, vùng đất địa linh nhân kiệt, đã gợi hứng cho tôi sáng tác những bản hùng ca như "Súng Đàn", "Vui Ra Đi", một thuở được hát vang trong Chiến dịch Thoại Ngọc Hầu. Rồi tiếp sau đó là các bản nhạc “Phiên Gác Đêm Xuân”, “Chiều Mưa Biên Giới”, “Sắc Hoa Màu Nhớ” được ra đời cũng tại vùng đất thiêng này. Khi đi vào vùng hỏa tuyến, là chàng trai trẻ độc thân, với một mối tình nho nhỏ thời học sinh mang theo trong balô, tôi bước nhẹ tênh vào cuộc chiến đầu đời.

Ngày đó Đồng Tháp Mười còn là đồng không mông quạnh, lau sậy ngút ngàn, dân cư thưa thớt, sống co cụm trên những gò đất cao giữa vùng đồng lầy nước nổi quanh năm. Người ở hậu phương lúc bấy giờ nhìn về Đồng Tháp Mười như là vùng đất bí hiểm với những huyền thoại Lúa Ma nuôi quân đánh giặc, về Tổng Đốc Binh Kiều, Thiên Hộ Vương thời chống Pháp qua những trận đánh lẫy lừng ở Gãy Cờ Đen, Gò Tháp mà chiến tích được tạc vào bia đá ở Tháp Mười Tầng còn lưu lại đến ngày nay.

Mùa xuân năm đó, đơn vị tôi đóng trên Gò Bắc Chiêng, có tên là Mộc Hoá, nằm sát biên giới Việt Nam-Campuchia, sau này là Tỉnh lỵ Kiến Tường. Đơn vị của tôi đã có những cuộc giao tranh đẫm máu vào những ngày giáp tết trên những địa danh Ấp Bắc, Kinh 12 và tuyến lửa Thông Bình, Cái Cái, Tân Thành. Dù vậy, mùa xuân vẫn có cánh én bay về trên trận địa và hoa sen Tháp Mười vẫn đua nở trong đầm dù bị quần thảo bởi những trận đánh ác liệt. Cứ mỗi độ xuân về, sông Vàm Cỏ lại mang về từng đàn tôm cá từ biển hồ Tông Lê Sáp, vượt vũ môn theo đám lục bình trôi về vùng Tam Giác Sắt, như nhắc nhở Bộ Tư Lệnh Tiền Phương Đồng Tháp Mười lập danh sách cho những người được về quê ăn Tết. 

Vì còn độc thân nên tên tôi được ưu tiên ghi vào Sổ Nhật Ký Hành Quân và ở lại đơn vị trong những ngày Tết. Dù không ai nghĩ có đánh nhau ngày đầu năm nhưng quân lệnh phải được tuân hành nghiêm chỉnh. Trước ba ngày Tết, tôi được lệnh lên chốt tiền tiêu, tăng cường cho cứ điểm, mang theo chiếc ba-lô với chút hành trang lương khô, cùng tấm ảnh của người em gái hậu phương, cũng là cơ duyên sau đó để tôi viết nên bài tình ca "Sắc Hoa Màu Nhớ".

Tiền đồn cuối năm, đêm 30 Tết, trời tối đen như mực, phút giao thừa lạnh lẽo hắt hiu, không bánh chưng xanh, không hương khói gia đình. Tôi ngồi trên tháp canh quan sát qua đêm tối, chỉ thấy những bóng tháp canh mờ nhạt bao quanh khu yếu điểm như những mái nhà tranh, chập chờn dưới đóm sáng hỏa châu mà mơ màng về mái ấm gia đình đoàn tụ lúc xuân sang. Thay cho lời chúc Tết là tiếng kẻng đánh cầm canh và tiếng hô mật khẩu lên phiên gác.

Vào đúng thời điểm giao thừa, ngọn đèn bão dưới chiến hào thắp sáng lên như đón chào năm mới thì cũng là lúc những tràng súng liên thanh nổ rền từ chốt tiền tiêu. Khi ấy vào buổi tinh mơ của trời đất giao hòa, vạn vật như hòa quyện vào trong tôi, có hồn thiêng của sông núi, có khí phách của tiền nhân. Tôi nghe tâm hồn nghệ sĩ của mình rộn lên những xúc cảm lạ thường, làm nảy lên những cung bậc đầu tiên của bài “Phiên Gác Đêm Xuân”:

“Đón giao thừa một phiên gác đêm
chào Xuân đến súng xa vang rền.
Xác hoa tàn rơi trên báng súng
ngỡ rằng pháo tung bay
ngờ đâu hoa lá rơi…”

Rồi mơ ước rất đời thường:
“Ngồi ngắm mấy nóc chòi canh
mơ rằng đây mái nhà tranh
mà ước chiếc bánh ngày xuân
cùng hương khói vương niềm thương…”

Bài “Phiên Gác Đêm Xuân” được ra đời trong hoàn cảnh như thế, cách đây nửa thế kỷ, đánh dấu một chuỗi sáng tác của tôi về đời lính như “Chiều Mưa Biên Giới”, “Mấy Dặm Sơn Khê”, “Sắc Hoa Màu Nhớ”, “Khúc Tình Ca Hàng Hàng Lớp Lớp”, “Xin Đừng Trách Anh”, “Lá Thư Người Lính Chiến”, “Anh Trước Tôi Sau”, “Lời Giã Biệt”… v.v. Sau ngày 30 tháng Tư năm 75, các bản nhạc này cùng chung số phận tan tác như cuộc đời chìm nổi của tôi.'...

... Sau tháng 4/1975, tôi đi học tập “cải tạo” 10 năm. Khi trở về nhà, tôi mang theo nhiều chứng bệnh trầm trọng, tinh thần và thể xác bị suy sụp. Suốt 30 năm qua, tôi không tham gia bất cứ hoạt động nào ở trong nước cũng như ngoài nước. Vào năm 2003, nhà nước Việt Nam có cho phép lưu hành 18 bài hát của tôi, gồm: “Hải Ngoại Thương Ca”, “Nhớ Một Chiều Xuân”, “Về Mái Nhà Xưa”, “Khi Đã Yêu”, “Đom Đóm”, “Thầm Kín”, “Vô Thường”, “Niềm Đau Dĩ Vãng”, “Tình Cố Hương”, “Cay Đắng Tình Đời”, “Tình Đầu Xót Xa”, “Khúc Xuân Ca”, “Kỷ Niệm Vẫn Xanh”, “Truông Mây”, “Bài Ca Hạnh Phúc”, “Bông Hồng Cài Áo”, “Trái Tim Việt Nam”, “Núi và Gió”.

Rất tiếc một số bài hát tâm đắc không được nhà nước cho phép. Tôi hy vọng rồi đây theo thời gian mọi việc sẽ tốt đẹp hơn. Đặc biệt trong lãnh vực văn hoá, văn nghệ, tôi nghiệm rằng những gì có giá trị nghệ thuật, dù bị vùi dập vì sự ganh tỵ hay hiểu lầm, sẽ có ngày được mang trả lại vị trí đích thực của nó. Tôi chỉ tiếc đời người ngắn ngủi mà tôi đã phí phạm quãng thời gian dài 30 năm. Thật lấy làm tiếc!
Hồi ký của NS. NGUYỄN VĂN ĐÔNG (nguồn: trang Mượn Dấu Thời Gian)

Vĩnh biệt Nhạc sĩ Nguyễn văn Đông!

Tôi nghĩ ông là một nhân cách đặc biệt giữa cuộc đời đầy “nhốn nháo” này. Ông không xuất hiện bất cứ nơi đâu, ở đâu giữa chốn nhân gian “huyên náo” này từ khi ông ra khỏi trại cải tạo. Dù ông đi lính VNCH tới cấp bậc Đại tá Chánh văn phòng tham mưu phó, Quân lực VNCH. Ông cũng không đi diện HO qua Mỹ, không dây vào bất cứ cuộc tranh cãi nào về âm nhạc, mặc dù nhạc ông để lại cho đời nhiều dư âm sang trọng.

Từ rất nhỏ, tôi đã nghe nhạc ông: Mấy dặm Sơn khê, Chiều mưa biên giới, Hải ngoại thương ca, Tình cố hương, Khúc Xuân ca... Hồi còn tuổi ấu thơ, hai mẹ con tôi đơn độc trong mái tranh nghèo ở quê cô đơn chiếc bóng để nghe nhạc ông. Tôi đã nghe văng vẳng: “Chiều mưa biên giới, anh đi về đâu. Sao còn đứng ngóng nơi giang đầu. Kìa rừng chiều âm u rét mướt, chờ người về vui trong giá buốt” hay “Lòng trần còn tơ vương khánh tướng, thì đường trần mưa bay gió cuốn, còn nhiều anh ơi” với giọng ngân mượt mà của ca sĩ gốc Huế: Hà Thanh.

Chiều mưa biên giới, bản nhạc để đời đó, và Mấy dặm sơn khê, lại bị cấm cùng với 15 bản nhạc khác, ngay từ thời ông Ngô đình Diệm vì nó buồn quá và, vì “lưng trời nhớ sắc mây pha hồng” được liên tưởng màu cờ của phía đối phương dù ông đang là cấp bậc đại tá của quân lực VNCH. Cuộc chiến tranh Việt nam, nó phức tạp ngay từ đầu qua số phận một bản nhạc của Nguyễn văn Đông.


Tôi và vợ tôi, nhiều lần muốn nhờ anh Phan Bá Chức dẫn đến thăm nhạc sĩ, vì lòng tôn trọng và ngưỡng mộ. Anh Chức lại cho biết NVĐ hiện giờ không muốn tiếp bất cứ ai. Ông có vợ là Nguyệt Thu và cùng vợ bán quán giò chả có tên Nhiên Hương trên đường Phạm văn Hai trong một căn nhà nhỏ xíu được tạo dựng từ đầu những năm 70. Tôi đành nuối tiếc là không được gặp ông, cho đến giờ này, khi nghe tin ông đi về thế giới bên kia.


Đời sống thế tục và đời sống âm nhạc của ông đều đáng ngưỡng mộ. Vĩnh biệt ông, người nhạc sĩ tài hoa đã tự trói mình trong “cô đơn chiếc bóng” đến cuối cuộc đời mình.


(Nguyễn Công Khế)

21.9.17

Chuyện Côn Đảo

Chuyện Côn đảo

ÔNG QUẢN LÝ HỢP TÁC XÃ TIÊU THỤ VÀ
NHỮNG “THÂN CHỦ” QUEN THUỘC CỦA QUỸ KÝ THÁC CAN NHÂN
Trong thời gian chỉ hơn một năm rưởi ở Côn đảo, ngoài nhiệm vụ chính thức là nhân vật số 2 tại Cơ sở HC Côn Sơn và bị ông Lê Công Chất, Thứ trưởng bộ Nội vụ, khoác cho thêm vai trò người cố vấn hành chánh, tài chánh cho ông Quản đốc Trung tâm Cải huấn (cũng do ông chúa đảo kiêm nhiệm), tôi còn phải kiêm nhiệm thêm hai nhiệm vụ khác nữa, là Chủ tịch Ban quản trị Hợp tác xã Tiêu thụ và Quản lý kế toán “Quỹ Ký thác can nhân”.

* Xin nói trước về Hợp tác xã Tiêu thụ Côn Sơn. Như mọi hòn đảo khác, Côn đảo là một khu vực “chó ăn đá, gà ăn muối”, địa hình chủ yếu là đồi núi, đất khả canh chỉ có một thẻo nhỏ, không trồng lúa được, chỉ trồng rau muống. Chính quyền và ban quản lý trại giam đã tận dụng những vạt đất canh tác được trên đồi núi để lập nên Sở Rẩy, ngày ngày các tù phạm được đưa lên đó chăm sóc. Tất nhiên hậu quả thấy rõ của tình trạng này là cư dân trên đảo không có đủ rau quả và thức ăn để ăn. Từ lâu, trước khi tôi ra đảo, chính quyền đã thiết lập HTX Tiêu thụ, mua thực phẩm từ đất liền ra bán lại cho những thành phần sống trên đảo, kể cả những phạm nhân được sử dụng làm công nhân văn phòng, ở trại riêng bên ngoài (Trại lá) như tôi đã kể ở trên. Người thầu cung cấp thực phẩm cho HTX là ông Huỳnh Văn Phàn, nhà ở Bà Chiểu, Gia Định, trông bề ngoài giống một nông dân hơn là một nhà thầu. Hàng tháng (hay 2-3 tháng), ông thuê một chuyến tàu chở ra Côn đảo những thực phẩm cần thiết, theo yêu cầu của Ban Quản lý HTX Tiêu thụ. HTX là một dãy nhà dài gần đối diện với Cơ sở HC Côn sơn, người làm việc tại đó phần lớn là con em quân nhân, công chức trên đảo và tù. Căn nhà đầu dãy, ở góc đường, là nơi ở của anh quản lý HTX, Nguyễn Văn Sơn, một người đàn ông trung niên hơi thấp, nước da trắng, hơi xanh một chút. Khi tôi mới chân ướt chân ráo ra đảo thì nghe đâu anh Sơn đã cư ngụ trên đảo 15 năm rồi. 15 năm cu ky một mình, không thân nhân vào ra thăm viếng, cũng chẳng nghe nói anh về Sài Gòn bao giờ. Anh lại không thuộc vào thành phần nào trong hai thành phần chủ yếu trên đảo, một là quân nhân, công chức (kể cả giám thị trại giam) và gia đình họ; hai là tù. Một đôi lần, tôi nghe đồn anh Sơn là người của “phía bên kia” cài cắm trên đảo, do lối sống đơn chiếc của anh trong nhiều năm, và cũng do cung cách ứng xử nhẹ nhàng, thâm trầm của anh. Tôi không quan tâm đến điều này, phần vì đây chẳng thuộc nhiệm vụ của tôi, phần vì tôi nghĩ là tôi nghe được thì ắt hẳn ông chúa đảo và bộ phận an ninh, cảnh sát cũng nghe được.

Chỗ ở của anh Sơn tuy không rộng, nhưng do anh sống độc thân nên thường trở thành chỗ gặp gỡ, nói chuyện khào của các trưởng ty sở, sĩ quan trên đảo. Tôi cũng chỉ đến đó một đôi lần. Bộ máy HTXTT chạy đều từ trước khi tôi ra đảo nên hầu hết việc điều hành, anh Quản lý Nguyễn Văn Sơn đảm đương cả. Thường thì mỗi cuối tháng, anh Sơn lên CSHC mời tôi đích thân xuống HTX xem mấy cuốn sổ nhật ký kế toán, to và rất nặng nề, để ký duyệt vào đó. Những khoảng thời gian khác trên đảo, tôi và anh Sơn ít gặp nhau, cho đến ngày tôi rời đảo. 

Tháng 4.1982, tôi “trở về đời”, không lâu sau, gặp lại 1-2 người từng ở Côn đảo như tôi, được biết anh Nguyễn Văn Sơn và đại úy Dậu, trưởng ban 4 Bộ chỉ huy Đặc khu Côn Sơn trước 30.4.1975, là hai trong số những người tiếp quản đảo sau 30.4 và thiết lập “chính quyền cách mạng” trên đảo. Từ ấy đến nay, tôi không biết thêm tin tức về anh Sơn.

* Những năm trước 1975, tù nhân tại Côn đảo, kể cả tù chống đối bị giam riêng, được phép nhận tiền do thân nhân từ đất liền gửi ra. Số tiền gửi ra đảo dưới hình thức bưu phiếu (mandat-poste, người Việt thường gọi nôm na là “măng-đa”), vào khoảng từ 2.000đ đến 4.000đ. Song có lẽ do từng xảy ra (hoặc để tránh) trường hợp phạm nhân có nhiều tiền một lúc, dẫn đến việc họ nhờ giám thị hay tù trật tự mua rượu thịt vào nhậu nhẹt trong tù, hoặc đánh bạc, hoặc mua chuộc giám thị, qui định của Trung tâm cải huấn Côn Sơn là chỉ cho họ được phát mỗi tuần lễ 500đ, nhận như thế cho đến khi hết số tiền họ có thì thôi. Để thực hiện qui định này, một “Quỹ ký thác can nhân” (KTCN) được chính quyền trên đảo lập ra để nhận tiền của tù nhân và phát dần ra cho họ, chức trách Quản lý kế toán quỹ đó do tôi kiêm nhiệm. Theo thủ tục, mỗi khi Ty Bưu điện Côn Sơn nhận được bưu phiếu đề tên người nhận, tên trại giam giữ, nơi đây sẽ thực hiện hai động tác chính: một là thông báo tên người thụ hưởng cho ban quản lý trại nơi họ bị giam giữ để nơi đây thông báo trực tiếp số tiền họ có trong tài khoản; hai là sung đương số tiền đó vào quỹ KTCN với đầy đủ tên người nhận, tên trại giam. Hàng tuần, mỗi trại giam sẽ căn cứ vào yêu cầu của các phạm nhân có tiền trong quỹ KTCN, lập danh sách những người xin nhận tiền (500 đ), kèm chữ ký của mỗi người, gửi đến ban điều hành quỹ để lập thủ tục trả tiền cho họ. Tiền do giám thị trưởng trại nhận chung cho toàn bộ phạm nhân trong trại và phát lại cho mỗi người. Trong những tháng đầu tiên, tôi thực hiện việc trả tiền cho phạm nhân với sự giúp sức của hai người tù chính trị làm việc trực tiếp với tôi. Tôi vẫn còn nhớ một người tên Nguyễn Xuân An, một người tên Nguyễn Duy; nghe đâu họ là sinh viên, bị bắt và đày ra Côn Sơn do những hoạt động chống chính quyền trong thời kỳ nhiều biến động chính trị tại miền Trung, đặc biệt tại Quảng Nam-Đà Nẵng vào nửa sau thập niên 1960. Cả hai anh An và Duy trạc tuổi tôi lúc bấy giờ. An mặc bộ bà ba màu xanh da trời đã ngã gần hết sang màu trắng, còn Duy thì bộ bà ba cũng gần trôi hết màu đen. Chân họ mang guốc vông, trông họ vẫn tươm tất, không nhếch nhác như nhiều người tù khác. Họ hiền lành, hết lòng với công việc và không bao giờ nói với tôi về chuyện chính trị. Được vài tháng, do bận nhiều việc, tôi xin với ông chúa đảo Cao Minh Tiếp cử cho một giám thị có học vấn tương đối để trực tiếp phụ giúp tôi điều hành quỹ KTCN. Người đó là giám thị Lê Văn Hùng, trưởng kho 2 lương thực, thực phẩm của TTCH. Ông có nét chữ viết đẹp (có lẽ vì thế mà được giao chức thủ kho), ăn chay trường, đầu cạo trọc, người trông khá hiền lương. Từ ngày ông giúp tôi điều hành quỹ KTCN, tôi rảnh rang lo việc khác, chỉ giúp ông giải quyết những khó khăn bất chợt về thủ tục, đặc biệt trong việc quyết định cho một số tù nhân “có máu mặt”, khả tín, nhận lãnh trọn số tiền họ có. Chính trong sự vụ này mà tôi có dịp tiếp xúc với một số người tù “đặc biệt”, đến gặp tôi để xin nhận lãnh một lần trọn số tiền do thân nhân họ gửi ra.

* Người đầu tiên mà tôi muốn nhắc đến là y sĩ Lê Túy, một cán bộ MTGP, bị bắt vào năm 1968 khi lẻn từ chiến khu về thăm nhà tại trung tâm thị xã Nha Trang. Anh Túy ra làm tại Ty Y tế (kiêm bệnh viện) Côn Sơn, mọi người lịch sự gọi anh là bác sĩ.Vả lại, vào thời đó, hầu như không có sự phân biệt giữa y sĩ và bác sĩ, hội đoàn của giới bác sĩ vẫn có tên là “Y sĩ đoàn”; còn y sĩ ngày nay thì vào thời đó là Cán sự Y tế, Cán sự Điều dưỡng, vào hàng công chức hạng B. Anh Túy được biết đến nhiều với kỹ thuật trị bệnh đau dạ dày khá kỳ lạ: anh chỉ cần dùng dao bén rạch một lằn nhỏ trên lòng bàn tay người bệnh, lấy ra một tí mỡ là người đó khỏi bệnh dạ dày! Anh là “thân chủ” của quỹ KTCN được tôi ưu ái nhất, cứ mỗi khi được thông báo về số tiền do thân nhân gửi ra, không đợi xong các thủ tục chuyển tiền vào quỹ KTCN, anh chạy đến tôi, nở nụ cười “cầu tài”, xin tôi ứng trước cho trọn số tiền đó. Tôi mến cái phong cách vui vẻ, cởi mở, sự đứng đắn của anh nên lần nào cũng “đặc cách” thỏa mãn yêu cầu của anh. Bù lại, anh cũng giúp được tôi một việc mà tôi sẽ kể trong bài sau.

Một bác sĩ tù chính trị khác cùng làm chung với anh Lê Túy tại Ty Y Tế là anh Triết (Nguyễn Đình Triết?). Hình như anh bị bắt trong những vụ biến động về chính trị tại Quảng Nam-Đà Nẵng những năm cuối thập niên 1960, trong đó có vụ biến động nổi tiếng liên quan đến bác sĩ Mẫn và đại tá Đàm Quang Yêu. Nghe đâu lúc đầu anh không chịu ra hợp tác với chính quyền trên đảo, nhưng về sau, anh nghe theo lời khuyên của một số người là nên ra để có điều kiện chăm sóc sức khỏe các tù chính trị một cách hiệu quả hơn. Anh không là “thân chủ” của quỹ KTCN, có thể anh nhận được tiền từ một nguồn khác, qua nhân viên y tế trên đảo chẳng hạn. Tôi thường gặp anh Triết tại nhà bác sĩ Nguyễn Đình Khương, Trưởng ty Y tế Côn Sơn, một trong những người bạn thân thiết của tôi trên đảo. Có lần anh Triết ghé nhà tôi chơi, trong lúc tôi đang chơi bóng bàn với các anh em tù và công chức. Anh được giải hồi (chữ thời đó dùng để chỉ sự trả tự do) khá sớm, trước khi tôi rời đảo.

Ở một bài trước, tôi có nhắc đến vụ án Đại úy Trần Ngọc Hiền thuộc MTGP, bị bắt tại Sài Gòn khi từ chiến khu về liên lạc với sứ quán Mỹ. Còn nhớ khi vụ án diễn ra, báo chí lúc bấy giờ có kể lại chuyện em ruột ông Hiền là Trung tá VNCH Trần Ngọc Châu, khi đang làmTỉnh trưởng Kiến Hòa (Bến Tre), từng dùng xe jeep chở ông Hiền từ dinh Tỉnh trưởng xuống cầu bắc Mỹ Tho. Ở Côn đảo, ông Hiền cũng thường đến xin tôi cho lãnh trọn số tiền do thân nhân gửi ra. Tất nhiên là tôi không từ chối. Tôi vốn là dân học luật và kinh tế-tài chánh, nghe đồn ông Hiền là tiến sĩ kinh tế học ở Liên Xô nên cũng tò mò muốn biết kinh tế XHCN như thế nào. Vì vậy, tôi có đôi lần lưu ông Hiền lại văn phòng để trao đổi về các vấn đề kinh tế. Có hôm tôi lịch sự mời ông khi rảnh rang thì ghé nhà tôi chơi. Một buổi sáng chủ nhật, ông Hiền đến thăm tôi tại nhà. Khác với ông Nguyễn Xuân Hòe, ngồi chưa ấm chỗ, ông Hiền đã thuyết cho tôi nghe về sự ưu việt của CNXH, về những âm mưu của “đế quốc Mỹ”, về những điều mà một cán bộ tuyên giáo vẫn thường nhai đi nhai lại. Buổi đàm luận duy nhất đó sớm chấm dứt, về sau, tôi không có dịp nói chuyện với ông Hiền nữa, ngoại trừ những lúc chấp thuận trả trọn số tiền ông nhận được.
Những người ở độ tuổi 60-70 trở lên, từng sống ở Sài Gòn và miền Nam sau Tết Mậu Thân 1968, chắc sẽ nhớ rõ vụ án “phở Bình” nổi tiếng, được báo chí thời đó khai thác triệt để. Theo cáo trạng lúc bấy giờ, ông chủ quán phở này đã dùng địa điểm kinh doanh của mình làm nơi chứa chấp các cán bộ cao cấp của MTGPMN. Thời đó, tôi sống xa Sài Gòn nên không quan tâm lắm đến vụ án. Nhưng tại Côn đảo, tôi lại gặp nhân vật chính của vụ án này là chủ quán phở Bình, ông Ngô Toại.

Ông Ngô Toại là người gốc Hoa, cao to, nước da trắng hồng, khi đến gặp tôi để xin lãnh trọn số tiền do người nhà gửi ra, ông thường mặc chiếc quần lụa đen thẳng thớm và chiếc áo sơ mi trắng, không thể nào trắng hơn. Tôi tưởng tượng nếu tôi và ông Ngô Toại đứng cạnh nhau lúc đó, trước mắt một người chưa biết gì về chúng tôi, thì không khéo người đó sẽ đoán tôi là tù, chứ chẳng phải ông Ngô Toại. Song, đó cũng chưa phải là điều đáng nói. Điều đáng nói, gây cho bản thân tôi không ít ngạc nhiên, đó là một người ít nhất là “thân Cộng” như ông Ngô Toại lại được chính ông chúa đảo Cao Minh Tiếp sử dụng làm người quản gia kiêm đầu bếp chính của mình! Tôi tưởng tượng chỉ cần một cái búng tay của ông Toại lên đĩa thức ăn thì Trung tá Tiếp đủ lăn quay ra rồi. Dinh chúa đảo cũng là nơi đón tiếp, chiêu đãi nhiều phái đoàn trung ương cấp Phó thủ tướng, Bộ trưởng, ra du hí nhiều hơn là thị sát, nếu ông Toại lãnh nhiệm vụ nào đó của “phía bên kia”, thì hậu quả còn ghê gớm đến đâu. Nhưng thực tế cho thấy trong một thời gian dài, ông Ngô Toại vẫn là quản gia của chúa đảo, và ông Tiếp vẫn còn sống nhăn răng cho đến ngày rời đảo, thăng quan tiến chức, lên Đại tá và làm Giám đốc Nha Cải Huấn, quản lý toàn bộ các trại giam ở miền Nam. Giờ đây, chỉ cần gõ 2 chữ “phở Bình” vào ô search Google, các bạn có thể đọc thấy một số bài viết ghi lại những “thành tích phi thường” của ông chủ quán Phở Bình Ngô Toại, giống như bạn đã xem về ông đại úy Phạm Ngọc Thảo tại phủ Tổng thống Đệ nhất Cộng hòa hay ông “cố vấn” Vũ Ngọc Nhạ. 

Nhắc đến chuyện này, tôi còn nhớ 2 kỷ niệm với ông Cao MinhTiếp. Một là khi vừa có lệnh chuyển từ Côn đảo về tỉnh Bình Dương, tôi ghé lại Nha Cải Huấn thăm ông, khi đó ông đã lên Đại tá. Ông mừng lắm, chúng tôi ngồi nói chuyện với nhau cả buổi, dù ông lúc nào cũng rất bận rộn. Một lần khác, ông lên thị sát Trung tâm cải huấn Bình Dương, địa phương nơi tôi đang làm việc. Tôi không hay biết gì, ông cho xe chạy sang Tòa Hành chánh tỉnh đón tôi qua TTCH gặp ông, tay bắt mặt mừng, ngồi hàn huyên với nhau gần cả buổi chiều… Khoảng năm 1976, khi đang ở trại cải tạo Long Thành, tôi tình cờ đọc một bài báo viết rằng trong số những sĩ quan VNCH mới di tản sang Mỹ, có hai người sớm ổn định cuộc sống và tạm gọi là thành đạt, một là Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ, và hai là Đại tá Cao Minh Tiếp, riêng ông Tiếp có một trang trại ở bang California. Nếu đúng vậy thì mừng cho ông.

Về đất liền làm việc một thời gian, thỉnh thoảng tôi vẫn nhớ đến những người từng cộng tác với tôi tại Quỹ KTCN, đến hai anh Nguyễn Xuân An và Nguyễn Duy, cùng những anh em tù khác mà trong những ngày sắp rời đảo, tôi quá bận bịu đến nỗi không nhớ mà từ biệt họ. Riêng với ông giám thị Lê Văn Hùng, khoảng năm 1974, ngày nọ đọc Công báo VNCH, tôi phát hiện ông đã được chuyển về TTCH Vĩnh Bình (Trà Vinh). Tôi vội vàng viết thư thăm ông, nhận được thư, ông mừng lắm, viết cho tôi một lá thư dài.
Nhân đây, cũng xin kể ra một “nghịch lý” khá đặc biệt tại Côn đảo: trong khi đây là nơi đày ải công chức phạm kỷ luật tại đất liền hay chính quyền trung ương phải kêu gọi người tình nguyện ra phục vụ, thì Côn đảo lại là “miền đất hứa” của giới giám thị cải huấn. Phần lớn họ là công chức hạng C, ngang ngạch tùy phái bên phía hành chánh (chạy công văn, giấy tờ), lương thấp, nên ngoài những quyền lợi được qui định chung với các thành phần công chức khác phục vụ tại vùng nước độc như thâm niên công vụ được tính 150% (một năm thâm niên được tính một năm rưởi), hàng tháng mỗi giám thị được trợ cấp khẩu phần ăn 21 kg gạo và cá khô, cá mắm theo tiêu chuẩn như của người tù. Khoản khẩu phần bổ sung này giúp họ tiết kiệm được một số tiền để bù đắp những khoản chi cần thiết khác. Nhiều gia đình làm giám thị cả 3-4 thế hệ, nhiều người trong cả đời mình, chưa từng đặt chân lên đất liền một lần. Vì thế, với một công chức ngạch giám thị cải huấn, có khi việc thuyên chuyển về đất liền lại không phải là niềm vui đối với họ.Tôi viết thư thăm hỏi, an ủi ông Lê Văn Hùng là vì thế.

Những bài đầu tiên viết về những gì mắt thấy tai nghe tại Côn đảo đã tạo điều kiện cho người viết có thêm mấy người bạn FB từng sống tại hòn đảo này. Một người bạn mới của tôi là cô Minh Nguyet Phan từng làm ở Phòng Viễn thông trong những năm 1970 -1972; đặc biệt hơn, thân phụ cô, cụ Phan Thúc D., và chị ruột cô là Phan Minh Ch., từng làm việc trực tiếp với tôi tại Cơ sở HC Côn Sơn. Dù công việc của Nguyệt bó hẹp ở Phòng Viễn thông, song do cô được sinh ra và lớn lên tại Côn đảo, nên hi vọng rằng – trong một mức độ nào đó – cô có thể “thẩm định” tính chính xác về những gì tôi đã kể về sự kiện và con người ở Côn đảo. Ngoài ra, một người bạn khác là Nguyễn Thanh Vân đã làm việc tại Côn đảo sau 30.4.1975, nay đã về hưu, tuy đọc thấy những gì tôi viết có thể không giống với những gì bạn đã học, đã biết, nhưng với tinh thần học hỏi một cách khách quan, bạn cũng hi vọng những điều tôi viết sẽ giúp bạn bổ sung vào kho kiến thức về Côn đảo đã thu thập được. Đó cũng là chút động lực giúp người viết tự tin hơn vào sự đón nhận và tin cậy của các bạn yêu sử.
Lê Nguyễn
17.9.2017

TÙNG THIỆN VƯƠNG MIÊN THẨM VÀ BIẾN ĐỘNG “GIẶC CHÀY VÔI”

TÙNG THIỆN VƯƠNG MIÊN THẨM VÀ BIẾN ĐỘNG “GIẶC CHÀY VÔI” (Trong các bạn trên FB, có những người là cháu trực hệ của Tùng Thiện vương nê...