14.3.18

GẠC MA - CÔ LIN - LEN ĐAO 14-3-1988

TOÀN CẢNH TRẬN CHIẾN GẠC MA - CÔ LIN - LEN ĐAO
Trần Đức Anh Sơn

1. Quần đảo Trường Sa trước trận chiến Gạc Ma - Cô Lin - Len Đao

Sau khi tiếp quản quần đảo Trường Sa từ Việt Nam Cộng hòa vào đầu tháng 5/1975, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (sau đó là Cộng hòa XHCN Việt Nam) tiếp tục thực thi chủ quyền trên quần đảo này. Từ năm 1976, cùng với việc thường xuyên tăng cường lực lượng, vũ khí và phương tiện quân sự cho công tác phòng thủ các đảo, Hải quân Việt Nam đã bắt đầu triển khai xây dựng và củng cố các công trình phòng thủ (công sự, trận địa, hầm hào chiến đấu, đài quan sát, sở chỉ huy…) trên các đảo thuộc quần đảo Trường Sa.

Ngày 14/7/1978, Bộ Quốc phòng nước Cộng hòa XHCN Việt Nam ra Quyết định số 478/QĐ-QP, thành lập căn cứ Cam Ranh - Sư đoàn 402, thuộc Bộ Tư lệnh Quân chủng Hải quân; với nhiệm vụ xây dựng sở chỉ huy của căn cứ đủ sức bảo đảm cho Bộ Tư lệnh Quân chủng Hải quân có thể chỉ huy được lực lượng của mình và chỉ huy tác chiến quân binh chủng hợp thành khi xảy ra chiến đấu ở khu vực Trường Sa.

Về vận chuyển chi viện cho Trường Sa, từ tháng 3 đến tháng 8/1977, Đoàn 125 (Hải đoàn 125) đã chở 2.630 tấn hàng, vật liệu xây dựng cùng với Hải đội 171 hoàn thành kế hoạch vận chuyển 3.730 tấn hàng cho 5 đảo: Trường Sa, Sinh Tồn, Nam Yết, Song Tử Tây và Sơn Ca, phục vụ cho bộ đội phòng thủ đảo và xây dựng các công trình quân sự ở đây.

Trước tình hình Philippines đưa quân chiếm đóng bất hợp pháp bãi An Nhơn và tăng cường hoạt động thăm dò, trinh sát trái phép quanh các khu vực đảo của ta đã đóng giữ (tháng 3/1978), nhằm bảo vệ vững chắc chủ quyền biển đảo, Hải quân Việt Nam đã đưa lực lượng ra đóng thêm một số đảo thuộc quần đảo Trường Sa để tăng cường khả năng củng cố phòng thủ bảo vệ quần đảo này.
Một mặt, Hải quân Việt Nam tập trung các lực lượng tàu vận tải, tàu đánh cá, lực lượng bộ binh của Trung đoàn 146, bộ đội đặc công của Lữ đoàn 126, Trung đoàn Công binh 83 ra chốt giữ bảo vệ các đảo: Trường Sa Đông (Đá Giữa), An Bang, Phan Vinh (Hòn Sập) và Sinh Tồn Đông; mặt khác, chỉ thị cho các đơn vị đang đóng giữ bảo vệ đảo đẩy mạnh các hoạt động huấn luyện, quan sát nắm chắc tình hình trên biển, sẵn sàng chiến đấu và đánh thắng ngay từ trận đầu khi địch có những hành động vũ lực xâm phạm chủ quyền đối với các đảo.

Theo đó, ngày 10/3/1978, một phân đội của Lữ đoàn 126 đã đổ bộ lên đảo An Bang. Ngày 04/4, 19 cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 146 ra đóng giữ, bảo vệ đảo Trường Sa Đông. Từ tháng 3 đến tháng 5/1978, các tàu HQ 605, HQ 601, HQ 681, HQ 606 đã hoàn thành nhiệm vụ vận chuyển bộ đội ra chốt giữ, bảo vệ và xây dựng công trình phòng thủ trên các đảo: Trường Sa Đông, An Bang, Phan Vinh, Sinh Tồn Đông và bãi đá Thuyền Chài.

Trong bối cảnh đất nước còn bộn bề khó khăn sau khi trải qua chiến tranh chống Pháp, chống Mỹ, giúp Campuchia thoát nạn diệt chủng và chiến tranh biên giới 1979 hao người tốn của, Việt Nam vẫn tập trung mọi nguồn lực có thể để củng cố khả năng phòng thủ để bảo vệ quần đảo Trường Sa của Tổ quốc.
Năm 1978, Hải đoàn 125 đã vận chuyển 17.763 tấn hàng hóa, vũ khí và 5.372 lượt người phục vụ nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Trường Sa. Đây là khối lượng hàng và người lớn nhất chi viện cho bộ đội bảo vệ chủ quyền quần đảo Trường Sa kể từ tháng 4/1975.


Tháng 11/1980, hai tàu HQ 612 và HQ 616 trực bảo vệ Trường Sa đã nêu cao cảnh giác, phát hiện và đối phó kịp thời và hiệu quả với hành động xâm nhập vây ép đảo An Bang của lực lượng quân sự nước ngoài, giữ vững an ninh, chủ quyền đảo.

Từ năm 1980, Hải quân thực hiện giai đoạn 2 xây dựng quần đảo Trường Sa (1980 - 1985), tăng cường biên chế, trang bị và xây dựng hệ thống công trình chiến đấu kiên cố, vững chắc trên quần đảo nhằm nâng cao một bước có tính chất cơ bản, lâu dài khả năng chiến đấu phòng thủ đảo. 

Cũng năm 1980, Lữ đoàn 125 đã vận chuyển 7.000 tấn; năm 1981, vận chuyển 6.532 tấn nguyên vật liệu xây dựng, vũ khí, trang bị kỹ thuật quân sự và 1.252 lượt cán bộ, chiến sĩ thay phiên nhau luân chuyển ra bảo vệ và xây dựng ở quần đảo Trường Sa. Đặc biệt, để tăng cường sức mạnh sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu thắng lợi trong mọi tình huống, từ năm 1980, chúng ta khẩn trương bổ sung vũ khí, phương tiện quân sự cho lực lượng phòng thủ bảo vệ các đảo thuộc quần đảo Trường Sa.
Năm 1982, đã vận chuyển được 19.577 tấn hàng và 5.105 lượt người từ đất liền ra đảo và từ đảo về đất liền an toàn tuyệt đối. Năm 1983, là 14.946 tấn hàng và 4.618 lượt người, năm 1984 là 2.970 tấn. Bước sang năm 1985, trước yêu cầu cấp bách của yêu cầu bảo vệ chủ quyền lãnh thổ ở Trường Sa, Bộ Quốc phòng quyết định đưa gấp một khối lượng lớn vũ khí, trang bị kỹ thuật, vật liệu xây dựng ra tăng cường sức mạnh chiến đấu quần đảo.

Lữ đoàn 125 đã hiệp đồng, phối hợp chặt chẽ với các đơn vị thuộc Vùng 4 Hải quân, Cục Kỹ thuật, Cục Hậu cần, Phòng Công trình triển khai các bước giao nhận, vận chuyển, bảo đảm các mặt… nên chỉ trong thời gian từ tháng 3 đến tháng 7, đã vận chuyển được 3.885 tấn hàng quân sự, 573 lượt người (đạt 111% kế hoạch).

Sang năm 1986, theo chỉ thị của Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng, Quân chủng Hải quân triển khai tiếp kế hoạch 5 năm 1986 - 1990 vận tải chi viện quần đảo Trường Sa, nhằm tiếp tục xây dựng cơ bản, lâu dài, kiên cố các công trình phòng thủ và tăng cường sức mạnh bảo vệ đảo. Thực hiện nhiệm vụ cấp bách này, ngay trong năm 1986, Quân chủng đã khắc phục khó khăn về phương tiện hiện có trong biên chế, vận chuyển được 2.604 tấn hàng và 970 lượt người ra Trường Sa an toàn.
Song song với thiết lập chủ quyền và bố trí lực lượng phòng thủ các đảo thuộc quần đảo Trường Sa mà đã tiếp quản từ chính quyền Việt Nam Cộng hòa, Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (sau đó là Cộng hòa XHCN Việt Nam) tiếp tục đấu tranh pháp lý với chính phủ các nước hiện đang chiếm giữ trái phép các đảo và quần đảo thuộc chủ quyền của Việt Nam.
Từ sau ngày đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam (tháng 01/1974), Trung Quốc tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động chính trị, ngoại giao, pháp lý, hành chính và quân sự để đánh chiếm quần đảo Trường Sa.
Từ cuối năm 1986, giả dạng các tàu đánh cá, tàu nghiên cứu, Trung Quốc đẩy mạnh các hoạt động xuống vùng biển phía nam, tăng số lần tàu chiến, tàu vận tải hoạt động trinh sát, thăm dò ở khu vực Trường Sa. Đặc biệt là từ ngày 24 đến 30/12/1986, máy bay và tàu chiến của Trung Quốc tiến hành các hoạt động trinh sát từ đảo Song Tử Tây đến đảo Thuyền Chài, gây căng thẳng trên vùng biển của Việt Nam.
Đầu năm 1987, Trung Quốc tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động ngoại giao và tăng cường đưa tàu chiến đi lại gần khu vực đảo Thuyền Chài. Trung Quốc đã đưa tàu Hải Dương 4 tiến hành trinh sát phần lớn các đảo thuộc quần đảo Trường Sa, trong đó có cả những đảo ta đang chốt giữ; tăng cường số lượt tàu qua lại khu vực các đảo An Bang, Thuyền Chài, Trường Sa, Trường Sa Đông, Song Tử Tây, có lúc chỉ cách ta khoảng một hải lý để thị uy. Trung Quốc sử dụng lực lượng hải quân khảo sát địa chất bất hợp pháp trên vùng biển quần đảo Trường Sa, tìm vị trí xây dựng được một trạm quan trắc hải dương theo yêu cầu của tổ chức khí tượng - hải dương thế giới; đồng thời tăng cường các hoạt động xâm nhập, khai thác trái phép tài nguyên vào sâu vùng biển của ta. Cũng thời kỳ này, Malaysia đưa lực lượng chiếm giữ bất hợp pháp các bãi đá Kỳ Vân và Kiệu Ngựa ở phía nam quần đảo Trường Sa.

2. Phản ứng của Việt Nam trước trận chiến Gạc Ma - Cô Lin - Len Đao

Trước tình hình các nước tăng cường tranh chấp ở quần đảo Trường Sa, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương đã chỉ thị cho Quân chủng Hải quân đưa lực lượng ra củng cố, giữ vững các đảo đang chốt giữ, tăng cường thế phòng thủ các đảo theo từng cụm, từng khu vực, bảo đảm khi có chiến sự xảy ra có thể chi viện hỗ trợ kịp thời giữ vững đảo; đưa lực lượng đóng giữ một số bãi đá ngầm trong khu vực quần đảo Trường Sa. 

Đầu năm 1987, Quân chủng Hải quân tổ chức lực lượng đóng giữ bãi cạn, đá ngầm Thuyền Chài (tháng 3/1987), tiếp đó, tổ chức xây dựng kế hoạch bảo vệ quần đảo Trường Sa 3 năm (1988 - 1990).
Xác định Trung Quốc có âm mưu thôn tính các đảo phía tây quần đảo Trường Sa và chiếm đóng xen kẽ vào các cụm đảo do lực lượng hải quân của ta đang đóng giữ, nhằm thiết lập tuyến ngăn chặn các hoạt động của ta từ đất liền đến các đảo thuộc quần đảo Trường Sa, Bộ Tư lệnh Hải quân đã đề ra kế hoạch triển khai lực lượng đóng giữ trên 11 bãi cạn, đá ngầm, cụ thể: Năm 1988, đóng giữ 4 vị trí: Đá Tây, Chữ Thập, Đá Lớn và Tiên Nữ; năm 1989, đóng giữ tiếp các bãi: Đá Thị, Tốc Tan, Đá Lát, Ga Ven, Đá Đông, Châu Viên và Núi Le. 

Ngày 06/11/1987, Bộ Quốc phòng chính thức phê chuẩn kế hoạch tác chiến trên và ban hành Mệnh lệnh số 1679/ML-QP, giao nhiệm vụ cho Bộ Tư lệnh Quân chủng Hải quân: “Đưa lực lượng ra đóng giữ các bãi cạn chưa có người, không chờ xin chỉ thị của cấp trên, trước mắt đưa ngay lực lượng ra đóng giữ Đá Tây, Chữ Thập, Đá Lớn, Tiên Nữ” 

Ngay sau đó, Bộ Tư lệnh Quân chủng Hải quân ra lệnh chuyển trạng thái sẵn sàng chiến đấu đối với lực lượng bảo vệ các đảo thuộc quần đảo Trường Sa; đồng thời chỉ thị cho Lữ đoàn 125, Lữ đoàn 172, Trung đoàn 83 vào trạng thái sẵn sàng chiến đấu, chuẩn bị lực lượng, phương tiện, sẵn sàng cơ động chiến đấu, ra xây dựng các công trình phòng thủ trên các bãi đá ta mới đóng giữ; điều chuyển một số tàu thuộc các lữ đoàn 146, 125 đưa bộ đội đến tăng cường lực lượng đóng giữ các đảo thuộc quần đảo Trường Sa. 

Trên cơ sở báo cáo của Bộ Tổng Tham mưu và Quân chủng Hải quân về diễn biến tình hình ở quần đảo Trường Sa, Bộ Chính trị đã ra Nghị quyết 06-NQ/TW ngày 30/11/1987, về đấu tranh bảo vệ chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Sau khi có Nghị quyết của Bộ Chính trị, Quân chủng Hải quân tăng cường lực lượng, xây dựng thế trận phòng thủ trên các đảo và vùng biển phía Nam. Quân chủng tăng cường thêm phương tiện cho Vùng 4 Hải quân, bảo vệ vị trí neo đậu cho tàu thuyền tại khu vực giàn khoan. Hàng ngày duy trì 2 tàu bảo vệ khu vực khai thác dầu khí, bảo vệ an toàn cho công tác thăm dò và khai thác dầu khí. Hoạt động tuần tiễu ở khu vực giàn khoan của lực lượng Hải quân lúc cao nhất có 6 tàu của Lữ đoàn 171 và Hải đoàn 129. Một số tàu đánh cá đến hoạt động trái phép ở khu vực thềm lục địa, hoặc tàu lạ xuất hiện bị Hải quân ta ngăn chặn xua đuổi, bảo vệ an toàn cho các hoạt động thăm dò, khai thác tài nguyên thiên nhiên trong các vùng biển và thềm lục địa của Việt Nam.
Đầu tháng 01/1988, nhận thấy tình hình khu vực quần đảo Trường Sa có chiều hướng phức tạp, Hải quân Việt Nam xác định, nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền vùng biển và quần đảo Trường Sa là nhiệm vụ quan trọng nhất, khẩn trương nhất và cũng là vinh dự của Quân chủng; tranh thủ thời gian, triển khai lực lượng đóng giữ trên các đảo, hoàn thành kế hoạch đóng giữ các đảo trong ba năm (1988 - 1990) ngay trong năm 1988…; đồng thời tăng cường số lần hoạt động tuần tiễu, bảo vệ vịnh Bắc Bộ, vùng biển Tây Nam. 

Bộ Tư lệnh Quân chủng Hải quân ra lệnh điều động lực lượng tàu, bộ đội công binh và lực lượng của cơ quan chuyển vào Cam Ranh, sẵn sàng đưa bộ đội ra đóng giữ đảo; chỉ đạo các đơn vị làm tốt công tác tư tưởng cho cán bộ chiến sỹ, thực hiện tốt việc di chuyển cơ quan, chỉ đạo triển khai tăng cường thông tin liên lạc ở Cam Ranh, Thành phố Hồ Chí Minh, quần đảo Trường Sa, chú trọng mạng thông tin hiệp đồng quân binh chủng; chỉ đạo bảo đảm hàng hải, thả phao tiêu đánh dấu luồng lạch ở Trường Sa; chỉ đạo công tác vật tư, tài chính, công binh bảo đảm hoàn thành kế hoạch xây dựng công trình, công sự chiến đấu, thiết bị chiến trường ở quần đảo Trường Sa; chỉ đạo tăng cường công tác nắm địch, tăng thêm phương tiện, lực lượng nắm địch, chỉ đạo công tác tuyển quân và huấn luyện chiến đấu.
Tiếp tục các hành động xâm chiếm bất hợp pháp các đảo thuộc quần đảo Trường Sa, ngày 22/01/1988, Trung Quốc đưa 1 tàu hộ vệ tên lửa, 1 tàu tuần dương, 1 tàu dầu, 1 tàu đổ bộ và một số tàu chiến khác đến chiếm đóng bất hợp pháp đảo Chữ Thập. Tiếp đó, họ đã đưa một lực lượng lớn gồm 2 tàu hộ vệ tên lửa, 2 tàu khu trục tên lửa, 4 tàu bảo đảm đậu xung quanh đảo, khống chế không cho tàu thuyền nước ta qua lại để bảo vệ đảo Chữ Thập.

Hải quân Trung Quốc còn tổ chức các cụm tuyến hoạt động gồm: cụm thứ nhất lấy Hoàng Sa, mà Trung Quốc đang chiếm đóng bất hợp pháp từ 1974, làm căn cứ thường xuyên, có tàu hộ vệ pháo, hộ vệ tên lửa, khu trục tên lửa, tuần dương, các tàu ngầm và tàu hộ tống nhằm ngăn cản, uy hiếp lực lượng tàu Hải quân Việt Nam hoạt động ở vịnh Bắc Bộ, gây khó khăn cho ta trong việc triển khai hoạt động bảo vệ vùng đảo phía Nam; cụm thứ 2 ngăn chân lực lượng Hải quân Việt Nam ở bán đảo Cam Ranh, đảo Phú Quý (Cù lao Thu) và cụm Chữ Thập, âm mưu khống chế Việt Nam ở khu vực Trường Sa, nếu có thời cơ phát triển lực lượng xuống khu vực phía nam Biển Đông.

Trước tình hình trên, ngày 23/01/1988, Bộ Tư lệnh Hải quân đã điều tàu HQ 613 thuộc Vùng 4 Hải quân chở lực lượng và vật liệu ra đảo Tiên Nữ. Mặc dù phải qua hai ngày vượt sóng to, gió lớn, nhưng khi ra đến đảo, bộ đội đã nhanh chóng xây dựng công sự, nhà ở vững chắc để đảm bảo sinh hoạt cho cán bộ, chiến sĩ giữ đảo.

Tiếp đó, ngày 27/01/1988, Bộ Tư lệnh Hải quân quyết định đưa các tàu HQ 611 và HQ 712 chở 1 đại đội công binh và hai khung đảo của Lữ đoàn 146 đến chiếm giữ đảo Chữ Thập. Ngày 29/01, tàu bị hỏng máy phải dừng lại sửa chữa. Sáng ngày 30/01, khi cách đảo 5 hải lý, thì phát hiện 4 tàu chiến Trung Quốc, gồm 2 tàu hộ vệ tên lửa, 2 tàu hộ vệ pháo ra ngăn cản, có lúc chỉ cách 300 m, không cho tiếp cận đảo, tàu phải quay về Trường Sa Đông, không thực hiện được việc đóng giữ đảo Chữ Thập như kế hoạch đề ra. 

Ngày 04/02/1988, Hải quân Việt Nam nhận định: Trung Quốc đã chiếm đóng bất hợp pháp trên đảo Chữ Thập, họ có thể mở rộng phạm vi chiếm đóng sang các đảo Châu Viên, Đá Đông, Đá Nam, Tốc Tan và đóng xen kẽ những bãi đá ta đang đóng giữ. Trước mắt, ta chưa đưa quân ra đóng xen kẽ ở đảo Chữ Thập vì họ ngăn chặn ta từ xa. Do đó, ta phải nhanh chóng đưa lực lượng ra đóng giữ Đá Lát, Đá Lớn, Châu Viên.
Bộ Tư lệnh Quân chủng Hải quân thành lập Sở chỉ huy tiền phương Quân chủng tại Cam Ranh, do đồng chí Giáp Văn Cương làm Tư lệnh, kiêm Tư lệnh Vùng 4 để chỉ huy các cơ quan, đơn vị kịp thời giải quyết mọi mặt theo yêu cầu đóng giữ, bảo vệ Trường Sa và DK1
.
Triển khai nhiệm vụ đưa lực lượng ra đóng giữ đảo, tàu HQ 611 và tàu HQ 712 đưa lực lượng công binh và bộ đội của Lữ đoàn 146 đến đảo Đá Lát. Bộ đội phân chia lực lượng thành 3 tổ chiến đấu canh gác, đồng thời tổ chức lực lượng làm nhà cấp ba. Đến ngày 20/02, lực lượng công binh được sự hỗ trợ của lực lượng đóng giữ đảo hoàn thành nhà và bàn giao cho cho lực lượng bảo vệ đảo.

Ngày 13/02, Lữ đoàn 125 cho tàu HQ 505 kéo tàu LCU 556 cùng bộ phận làm nhà cao chân đóng giữ đảo Đá Lớn. Trong khi ta đang tiến về phía đảo, thì phát hiện tàu khu trục và hai tàu hộ vệ tên lửa của Trung Quốc cũng tiến về phía Đá Lớn. Các tàu này đã có những hành động ngăn cản, uy hiếp tàu của ta. Tàu HQ 505 bình tĩnh khôn khéo đưa tàu LUC 556 tiếp tục tiến về phía bắc của đảo. 

Ngày 20/02, sau khi quan sát thăm dò luồng, tàu HQ 556 tiến vào phía vào phía nam đảo an toàn. Tiếp đó, tàu Đại Lãnh của Công ty trục vớt cứu hộ Sài Gòn kéo tàu HQ 582 và pông-tông Đ02, xuất phát từ thành phố Hồ Chí Minh, đến ngày 01/3, vào đến vị trí phía bắc đảo Đá Lớn. Cán bộ, chiến sĩ trên pông-tông Đ02 và lực lượng trên tàu LCU đã đến triển khai lực lượng, xây dựng thế trận phòng thủ bảo vệ đảo Đá Lớn.

Tháng 02/1988, Trung Quốc tăng thêm 4 tàu hộ vệ tên lửa, hộ vệ pháo xuống hoạt động ở khu vực quần đảo Trường Sa, gây tình hình hết sức căng thẳng. Ngày 18/02, Hải quân Việt Nam xác định: Ta phải kiên quyết đóng nhanh, đóng đồng thời tất cả các đảo đã có kế hoạch. Nếu cần, có thể dùng mọi loại tàu để ủi bãi, không làm như vậy sẽ không ngăn chặn được Trung Quốc tiếp tục mở rộng phạm vi chiếm đóng thêm. 

Giữa tháng 02/1988, Quân chủng Hải quân đã điều động Lữ đoàn 125 đưa pông-tông 07 ra giữ Tốc Tan, đồng thời, đưa lực lượng, phương tiện của Lữ đoàn 146 và lực lượng công binh của Trung đoàn 83 ra xây dựng, cắm cờ, canh gác, chốt giữ đảo Đá Đông, một đảo chìm rộng giữ vị trí quan trọng trong quần đảo.

Trong bối cảnh hải quân Trung Quốc có thể khiêu khích ngăn chặn bất cứ lúc nào, song các tàu của ta đã bình tĩnh vượt qua sóng gió đưa bộ đội và vật liệu đến đảo an toàn. Nhờ sự kết hợp chặt chẽ giữa các lực lượng tàu, đảo, công binh, công việc triển khai lực lượng bảo vệ đảo, xây dựng nhà, công sự đã hoàn thành theo đúng kế hoạch, bảo đảm yêu cầu kỹ thuật. Các tàu HQ 605 và HQ 604 tiếp tục ở lại làm nhiệm vụ bảo vệ vòng ngoài Đá Đông.

Như vậy, đến tháng 03/1988, lực lượng Hải quân Việt Nam đã triển khai xây dựng xong thế trận phòng thủ trên các đảo: Đá Lát, Đá Đông, Tốc Tan, Tiên Nữ và Đá Lớn, đưa tổng số đảo đóng giữ của ta lên 16 đảo, trong đó gồm 9 đảo nổi, 7 đảo chìm.

3. Diễn biến trận chiến Gạc Ma - Cô Lin - Len Đao

Sau khi chiếm giữ trái phép các đảo, đá: Chữ Thập, Châu Viên, Huy gơ (tiếng Anh: Hughes Reef, sau đổi tên là đá Tư Nghĩa), Ga Ven và Xu Bi, quân Trung Quốc tiếp tục chuẩn bị thực hiện ý đồ thôn tính 3 đảo: Gạc Ma, Cô Lin, Len Đao.

Đầu tháng 3/1988, Hải quân Trung Quốc huy động lực lượng của hai hạm đội xuống khu vực quần đảo Trường Sa, tăng số tàu hoạt động ở đây thường xuyên có từ 9 đến 12 tàu chiến, gồm: tàu khu trục tên lửa, 7 tàu hộ vệ tên lửa, 2 tàu hộ vệ pháo, 2 tàu đổ bộ; tàu hỗ trợ gồm 3 tàu vận tải LSM, tàu đo đạc, tàu kéo và một pông-tông lớn.

Trước tình hình đó, ngày 04/3/1988, Hải quân Việt Nam xác định: Trung Quốc có thể chiếm thêm một số bãi cạn xung quanh cụm đảo Sinh Tồn, Nam Yết và khu vực Đông kinh tuyến 115o, trong đó, Gạc Ma giữ vị trí quan trọng, nếu Trung Quốc chiếm giữ sẽ khống chế đường qua lại tiếp tế của ta cho các đảo ta đang chiếm giữ, vì vậy phải quyết tâm đưa bộ đội đóng giữ các đảo: Gạc Ma, Cô Lin và Len Đao.
Triển khai chủ trương trên, ngày 12/3/1988, tàu HQ 605 (Lữ đoàn 125), do đồng chí Lê Lệnh Sơn làm Thuyền trưởng, xuất phát từ đảo Đá Đông đến đóng giữ đảo Len Đao. Sau 29 giờ vượt sóng to, gió lớn, tàu HQ 605 đến đảo Len Đao và cắm cờ Tổ quốc lên đảo (lúc 5 giờ ngày 14/3/1988), khẳng định chủ quyền và quyết tâm bảo vệ đảo của bộ đội ta.

Tiếp đó, 9 giờ ngày 13/3/1988, tàu HQ 604 do đồng chí Vũ Phi Trừ làm Thuyền trưởng và tàu HQ 505 do đồng chí Vũ Huy Lễ làm Thuyền trưởng, xuất phát từ đảo Đá Lớn tiến về đảo Gạc Ma và đảo Cô Lin. Phối hợp với 2 tàu HQ 604 và HQ 505 có 2 phân đội công binh (70 người) thuộc Trung đoàn 83, 4 tổ chiến đấu (22 người) thuộc Lữ đoàn 146, do đồng chí Trần Đức Thông, Phó Lữ đoàn trưởng chỉ huy và 4 chiến sĩ đo đạc của Đoàn đo đạc và biên vẽ bản đồ (Bộ Tổng Tham mưu). 

Sau khi 2 tàu của ta thả neo được 30 phút, tàu hộ vệ của Trung Quốc từ đá Huy Gơ chạy về phía đảo Gạc Ma. Tàu Trung Quốc áp sát tàu HQ 604 của ta, dùng loa gọi sang khiêu khích, thay nhau cơ động, chạy quanh đảo Gạc Ma, uy hiếp lực lượng của Việt Nam. Cán bộ, chiến sĩ 2 tàu HQ 604 và HQ 605 động viên nhau giữ vững quyết tâm không để mắc mưu, kiên trì neo giữ quanh đảo. 

Trước tình hình căng thẳng do Hải quân Trung Quốc gây ra, lúc 21 giờ ngày 13/3, Bộ Tư lệnh Quân chủng Hải quân chỉ thị cho các đồng chí: Trần Đức Thông, Vũ Huy Lễ, Vũ Phi Trừ chỉ huy bộ đội quyết giữ vững các đảo Gạc Ma và Cô Lin; khẩn trương thả xuồng máy, xuồng nhôm, chuyển vật liệu làm nhà lên đảo ngay trong đêm ngày 13/3. Tàu HQ 604 cùng lực lượng công binh Trung đoàn 83 chuyển vật liệu lên đảo Gạc Ma, tiếp đó, lực lượng của Lữ đoàn 146 bí mật đổ bộ, cắm cờ Tổ quốc và triển khai 4 tổ bảo vệ đảo.

Lúc này, Trung Quốc điều thêm 2 tàu hộ vệ trang bị pháo 100 ly đến khu vực đảo Gạc Ma. 6 giờ, ngày 14/3/1988, tàu Trung Quốc thả 3 thuyền nhôm và 40 quân đổ bộ lên đảo tiến vào giật cờ ta. Lập tức, thiếu úy Trần Văn Phương, hạ sĩ Nguyễn Văn Lanh cùng đồng đội dũng cảm giành lại cờ. Lính Trung Quốc đã nổ súng bắn vào bộ đội ta, làm thiếu úy Trần Văn Phương hy sinh, hạ sĩ Nguyễn Văn Lanh bị thương. Mặc dù bị đối phương uy hiếp và nổ súng tấn công, nhưng bộ đội ta vẫn kiên cường đấu tranh bảo vệ chủ quyền hải đảo của Tổ quốc.

Không ép được lực lượng Việt Nam rút khỏi đảo, 7 giờ 30 phút ngày 14/3, 2 tàu Trung Quốc bắn pháo 100 ly gây hỏng nặng tàu HQ 604 của Việt Nam, rồi bất ngờ cho quân xông về phía tàu ta. Thuyền trưởng Vũ Phi Trừ đã bình tĩnh chỉ huy bộ đội trên tàu sử dụng các loại súng AK, RPĐ, B40, B41 đánh trả quyết liệt. Trận đánh diễn ra mỗi lúc thêm ác liệt. Tàu Trung Quốc tiếp tục nã pháo dồn dập làm tàu ta bị thủng nhiều lỗ và chìm dần xuống biển. Thuyền trưởng Vũ Phi Trừ, Phó Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 146 Trần Đức Thông và cùng một số cán bộ, chiến sĩ tàu đã anh dũng hy sinh cùng tàu HQ 604 ở khu vực đảo Gạc Ma.

Tại đảo Cô Lin, 6 giờ ngày 14/3/1988, tàu HQ 505 đã cắm 2 lá cờ lên đảo. Khi tàu HQ 604 của Việt Nam bị chìm, thuyền trưởng tàu HQ 505 Vũ Huy Lễ ra lệnh nhổ neo ủi bãi. Phát hiện thấy ta cơ động lên bãi, 2 tàu của Trung Quốc quay sang tiến công tàu HQ 505. Bất chấp hiểm nguy, tàu HQ 505 chạy hết tốc độ, trườn lên được 2/3 thân tàu thì bốc cháy. 

8 giờ 15 phút ngày 14/3, bộ đội trên tàu HQ 505 vừa tiến hành dập lửa cứu tàu, bảo vệ đảo, vừa đưa xuồng đến cứu vớt cán bộ, chiến sĩ của tàu HQ 604 vừa bị Trung Quốc đánh chìm. Cán bộ, chiến sĩ của tàu HQ 505 đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền ở đảo Cô Lin.
Ở hướng đảo Len Đao, 8 giờ 20 phút ngày 14/3, tàu Trung Quốc bắn chìm tàu HQ 605 của Việt Nam. Cán bộ, chiến sĩ của tàu HQ-605 phải dìu nhau bơi về đảo Sinh Tồn (đến 6 giờ ngày 15/3 mới lên đến đảo).

Trong trận chiến đấu ngày 14/3/1988, mặc dù tương quan lực lượng chênh lệch, phương tiện vũ khí hạn chế, cán bộ và chiến sĩ Hải quân Nhân dân Việt Nam đã chiến đấu dũng cảm, không quản hy sinh, quyết tử đến cùng để bảo vệ chủ quyền hải đảo của Tổ quốc: 3 đồng chí hy sinh, 11 đồng chí bị thương, 70 đồng chí bị mất tích (sau này, Trung Quốc trao trả cho Việt Nam 9 người, còn 61 người mất tích), 3 tàu bị bắn cháy và chìm.

Trận hải chiến Gạc Ma - Cô Lin - Len Đao đã đi vào lịch sử chiến tranh chống Trung Quốc xâm lược như một biểu tượng của tinh thần quả cảm và sự hy sinh anh dũng của Hải quân và công binh Việt Nam.
Sau này, Chủ tịch nước Cộng hòa XHCN Việt Nam tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân các tập thể và cá nhân sau: Tàu HQ 505 thuộc Lữ đoàn 125 Hải quân (8/1/1989); Tàu HQ 931 thuộc Hải đội 413 Lữ đoàn 955 Vùng 4 hải quân (13/12/1989); Vũ Huy Lễ, Thuyền trưởng tàu HQ 505 (6/1/1989); Liệt sĩ Trần Văn Phương, Chỉ huy phó đảo Gạc Ma, Lữ đoàn 146 Hải quân (6/1/1989); Liệt sĩ Trần Đức Thông, Phó Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 146 (3/12/1989); Liệt sĩ Vũ Phi Trừ, Thuyền trưởng tàu HQ 604, Lữ đoàn 125 Hải quân (3/12/1989); Nguyễn Văn Lanh, Tiểu đội trưởng, Trung đoàn 83 Hải quân (3/12/1989). Ngoài ra còn có hàng chục tập thể và cá nhân được tặng thưởng Huân chương Quân công, Huân chương Chiến công các loại.

(Tổng hợp từ nhiều nguồn tư liệu trên internet)

1.3.18

Hồi ký của NS. NGUYỄN VĂN ĐÔNG

BA LÔ,CÂY ĐÀN và MỐI TÌNH HỌC TRÒ CỦA SÀi GÒN THƯƠNG NHỚ

Vào năm 1956, đơn vị tôi đóng quân ở Chiến khu Đồng Tháp Mười, được xem là mặt trận tiền tiêu nóng bỏng vào thời bấy giờ. Khi ấy, tôi mang cấp bực Trung úy, mới 24 tuổi đời, còn bạch diện thư sinh. Tuy hồn vẫn còn xanh nhưng tâm tình đã nung trong lửa chín ở quân trường. Chính tại Đồng Tháp Mười, vùng đất địa linh nhân kiệt, đã gợi hứng cho tôi sáng tác những bản hùng ca như "Súng Đàn", "Vui Ra Đi", một thuở được hát vang trong Chiến dịch Thoại Ngọc Hầu. Rồi tiếp sau đó là các bản nhạc “Phiên Gác Đêm Xuân”, “Chiều Mưa Biên Giới”, “Sắc Hoa Màu Nhớ” được ra đời cũng tại vùng đất thiêng này. Khi đi vào vùng hỏa tuyến, là chàng trai trẻ độc thân, với một mối tình nho nhỏ thời học sinh mang theo trong balô, tôi bước nhẹ tênh vào cuộc chiến đầu đời.

Ngày đó Đồng Tháp Mười còn là đồng không mông quạnh, lau sậy ngút ngàn, dân cư thưa thớt, sống co cụm trên những gò đất cao giữa vùng đồng lầy nước nổi quanh năm. Người ở hậu phương lúc bấy giờ nhìn về Đồng Tháp Mười như là vùng đất bí hiểm với những huyền thoại Lúa Ma nuôi quân đánh giặc, về Tổng Đốc Binh Kiều, Thiên Hộ Vương thời chống Pháp qua những trận đánh lẫy lừng ở Gãy Cờ Đen, Gò Tháp mà chiến tích được tạc vào bia đá ở Tháp Mười Tầng còn lưu lại đến ngày nay.

Mùa xuân năm đó, đơn vị tôi đóng trên Gò Bắc Chiêng, có tên là Mộc Hoá, nằm sát biên giới Việt Nam-Campuchia, sau này là Tỉnh lỵ Kiến Tường. Đơn vị của tôi đã có những cuộc giao tranh đẫm máu vào những ngày giáp tết trên những địa danh Ấp Bắc, Kinh 12 và tuyến lửa Thông Bình, Cái Cái, Tân Thành. Dù vậy, mùa xuân vẫn có cánh én bay về trên trận địa và hoa sen Tháp Mười vẫn đua nở trong đầm dù bị quần thảo bởi những trận đánh ác liệt. Cứ mỗi độ xuân về, sông Vàm Cỏ lại mang về từng đàn tôm cá từ biển hồ Tông Lê Sáp, vượt vũ môn theo đám lục bình trôi về vùng Tam Giác Sắt, như nhắc nhở Bộ Tư Lệnh Tiền Phương Đồng Tháp Mười lập danh sách cho những người được về quê ăn Tết. 

Vì còn độc thân nên tên tôi được ưu tiên ghi vào Sổ Nhật Ký Hành Quân và ở lại đơn vị trong những ngày Tết. Dù không ai nghĩ có đánh nhau ngày đầu năm nhưng quân lệnh phải được tuân hành nghiêm chỉnh. Trước ba ngày Tết, tôi được lệnh lên chốt tiền tiêu, tăng cường cho cứ điểm, mang theo chiếc ba-lô với chút hành trang lương khô, cùng tấm ảnh của người em gái hậu phương, cũng là cơ duyên sau đó để tôi viết nên bài tình ca "Sắc Hoa Màu Nhớ".

Tiền đồn cuối năm, đêm 30 Tết, trời tối đen như mực, phút giao thừa lạnh lẽo hắt hiu, không bánh chưng xanh, không hương khói gia đình. Tôi ngồi trên tháp canh quan sát qua đêm tối, chỉ thấy những bóng tháp canh mờ nhạt bao quanh khu yếu điểm như những mái nhà tranh, chập chờn dưới đóm sáng hỏa châu mà mơ màng về mái ấm gia đình đoàn tụ lúc xuân sang. Thay cho lời chúc Tết là tiếng kẻng đánh cầm canh và tiếng hô mật khẩu lên phiên gác.

Vào đúng thời điểm giao thừa, ngọn đèn bão dưới chiến hào thắp sáng lên như đón chào năm mới thì cũng là lúc những tràng súng liên thanh nổ rền từ chốt tiền tiêu. Khi ấy vào buổi tinh mơ của trời đất giao hòa, vạn vật như hòa quyện vào trong tôi, có hồn thiêng của sông núi, có khí phách của tiền nhân. Tôi nghe tâm hồn nghệ sĩ của mình rộn lên những xúc cảm lạ thường, làm nảy lên những cung bậc đầu tiên của bài “Phiên Gác Đêm Xuân”:

“Đón giao thừa một phiên gác đêm
chào Xuân đến súng xa vang rền.
Xác hoa tàn rơi trên báng súng
ngỡ rằng pháo tung bay
ngờ đâu hoa lá rơi…”

Rồi mơ ước rất đời thường:
“Ngồi ngắm mấy nóc chòi canh
mơ rằng đây mái nhà tranh
mà ước chiếc bánh ngày xuân
cùng hương khói vương niềm thương…”

Bài “Phiên Gác Đêm Xuân” được ra đời trong hoàn cảnh như thế, cách đây nửa thế kỷ, đánh dấu một chuỗi sáng tác của tôi về đời lính như “Chiều Mưa Biên Giới”, “Mấy Dặm Sơn Khê”, “Sắc Hoa Màu Nhớ”, “Khúc Tình Ca Hàng Hàng Lớp Lớp”, “Xin Đừng Trách Anh”, “Lá Thư Người Lính Chiến”, “Anh Trước Tôi Sau”, “Lời Giã Biệt”… v.v. Sau ngày 30 tháng Tư năm 75, các bản nhạc này cùng chung số phận tan tác như cuộc đời chìm nổi của tôi.'...

... Sau tháng 4/1975, tôi đi học tập “cải tạo” 10 năm. Khi trở về nhà, tôi mang theo nhiều chứng bệnh trầm trọng, tinh thần và thể xác bị suy sụp. Suốt 30 năm qua, tôi không tham gia bất cứ hoạt động nào ở trong nước cũng như ngoài nước. Vào năm 2003, nhà nước Việt Nam có cho phép lưu hành 18 bài hát của tôi, gồm: “Hải Ngoại Thương Ca”, “Nhớ Một Chiều Xuân”, “Về Mái Nhà Xưa”, “Khi Đã Yêu”, “Đom Đóm”, “Thầm Kín”, “Vô Thường”, “Niềm Đau Dĩ Vãng”, “Tình Cố Hương”, “Cay Đắng Tình Đời”, “Tình Đầu Xót Xa”, “Khúc Xuân Ca”, “Kỷ Niệm Vẫn Xanh”, “Truông Mây”, “Bài Ca Hạnh Phúc”, “Bông Hồng Cài Áo”, “Trái Tim Việt Nam”, “Núi và Gió”.

Rất tiếc một số bài hát tâm đắc không được nhà nước cho phép. Tôi hy vọng rồi đây theo thời gian mọi việc sẽ tốt đẹp hơn. Đặc biệt trong lãnh vực văn hoá, văn nghệ, tôi nghiệm rằng những gì có giá trị nghệ thuật, dù bị vùi dập vì sự ganh tỵ hay hiểu lầm, sẽ có ngày được mang trả lại vị trí đích thực của nó. Tôi chỉ tiếc đời người ngắn ngủi mà tôi đã phí phạm quãng thời gian dài 30 năm. Thật lấy làm tiếc!
Hồi ký của NS. NGUYỄN VĂN ĐÔNG (nguồn: trang Mượn Dấu Thời Gian)

Di dời dân hay nhà máy


Dana Ý, Dana Úc nên đi hay người dân sống gần đó nên đi, đó là nội dung chính trong 2 buổi đối thoại giữa Lãnh đạo TP, doanh nghiệp và người dân.

2 nhà máy thép này được chính quyền trước đây cho phép xây dựng gần khu dân cư xã Hoà Liên, huyện Hoà Vang

Chính quyền thì không tính hết mức độ ô nhiễm, nhà đầu tư thì có lợi là làm...

Đến nay, 2 nhà thép này đã gây ô nhiễm tiếng ồn, bụi và nguồn nước... người dân bức xúc vây nhà máy yêu cầu ngừng sản xuất...

Sự việc buộc lãnh đạo TP phải đối thoại với người dân và doanh nghiệp. Người dân yêu cầu dời nhà máy, doanh nghiệp thì đề nghị dời dân...

Sự việc khiến lãnh đạo TP lúng túng. Dời dân thì áp lực ngân sách giải tỏa và TĐC, dời nhà máy thì gây tổn thất doanh nghiệp!

Dời dân hay dời nhà máy thì cũng phải chờ đến thứ hai lãnh đạo TP mới trả lời!?

Với tôi thì dời nhà máy ra khỏi TP đáng sống này😝

Vĩnh biệt Nhạc sĩ Nguyễn văn Đông!

Tôi nghĩ ông là một nhân cách đặc biệt giữa cuộc đời đầy “nhốn nháo” này. Ông không xuất hiện bất cứ nơi đâu, ở đâu giữa chốn nhân gian “huyên náo” này từ khi ông ra khỏi trại cải tạo. Dù ông đi lính VNCH tới cấp bậc Đại tá Chánh văn phòng tham mưu phó, Quân lực VNCH. Ông cũng không đi diện HO qua Mỹ, không dây vào bất cứ cuộc tranh cãi nào về âm nhạc, mặc dù nhạc ông để lại cho đời nhiều dư âm sang trọng.

Từ rất nhỏ, tôi đã nghe nhạc ông: Mấy dặm Sơn khê, Chiều mưa biên giới, Hải ngoại thương ca, Tình cố hương, Khúc Xuân ca... Hồi còn tuổi ấu thơ, hai mẹ con tôi đơn độc trong mái tranh nghèo ở quê cô đơn chiếc bóng để nghe nhạc ông. Tôi đã nghe văng vẳng: “Chiều mưa biên giới, anh đi về đâu. Sao còn đứng ngóng nơi giang đầu. Kìa rừng chiều âm u rét mướt, chờ người về vui trong giá buốt” hay “Lòng trần còn tơ vương khánh tướng, thì đường trần mưa bay gió cuốn, còn nhiều anh ơi” với giọng ngân mượt mà của ca sĩ gốc Huế: Hà Thanh.

Chiều mưa biên giới, bản nhạc để đời đó, và Mấy dặm sơn khê, lại bị cấm cùng với 15 bản nhạc khác, ngay từ thời ông Ngô đình Diệm vì nó buồn quá và, vì “lưng trời nhớ sắc mây pha hồng” được liên tưởng màu cờ của phía đối phương dù ông đang là cấp bậc đại tá của quân lực VNCH. Cuộc chiến tranh Việt nam, nó phức tạp ngay từ đầu qua số phận một bản nhạc của Nguyễn văn Đông.


Tôi và vợ tôi, nhiều lần muốn nhờ anh Phan Bá Chức dẫn đến thăm nhạc sĩ, vì lòng tôn trọng và ngưỡng mộ. Anh Chức lại cho biết NVĐ hiện giờ không muốn tiếp bất cứ ai. Ông có vợ là Nguyệt Thu và cùng vợ bán quán giò chả có tên Nhiên Hương trên đường Phạm văn Hai trong một căn nhà nhỏ xíu được tạo dựng từ đầu những năm 70. Tôi đành nuối tiếc là không được gặp ông, cho đến giờ này, khi nghe tin ông đi về thế giới bên kia.


Đời sống thế tục và đời sống âm nhạc của ông đều đáng ngưỡng mộ. Vĩnh biệt ông, người nhạc sĩ tài hoa đã tự trói mình trong “cô đơn chiếc bóng” đến cuối cuộc đời mình.


(Nguyễn Công Khế)

23.11.17

Đã nổi lên những dấu hiệu cảnh báo!

Bắc Kinh đang theo đuổi chính sách ngoại giao dân tộc vị chủng? (Is Beijing Adopting an Ethnonationalist Foreign Policy?)

Đã nổi lên những dấu hiệu cảnh báo!

Harry Krejsa và Anthony Cho (Foreign Affairs, 23/10/2017)
Người dịch: Huỳnh Hoa

Khắp thế giới, các chính phủ từ Ba Lan tới Miến Điện đang khơi dậy tình cảm dân tộc vị chủng (ethnonationalist) để củng cố sự ủng hộ cho những chương trình chính trị mà nếu không sẽ gây chia rẽ. Ở các nước nhỏ hơn và thuần chủng hơn, xu hướng này chủ yếu biểu lộ ở sự chuyển dịch chính sách đối nội theo kiểu hướng nội, chẳng hạn như chính sách hạn chế nhập cư và bảo hộ kinh tế của Hungary dưới quyền tổng thống Viktor Orban. Còn ở các nước lớn, hùng mạnh hơn về kinh tế, tình cảm dân tộc vị chủng có khuynh hướng tạo điều kiện cho chính sách ngoại giao hiếu chiến.
Lịch sử có rất nhiều những hậu quả kinh khủng về chủ nghĩa dân tộc vị chủng từ các nước lớn lan ra sân khấu thế giới – và đã có những dấu hiệu cho thấy đất nước đông dân nhất thế giới, Trung Quốc, có thể là ví dụ mới nhất.
Đối với các nước lớn, lượng kiều bào đông đúc hoặc có vị thế quan trọng ở nước ngoài có thể là một mục tiêu đầy cám dỗ mà chính phủ phải thu hút nhân danh chính sách ngoại giao dân tộc vị chủng. Các nhà nước ràng buộc tính chính danh của mình vào một căn cước sắc tộc (ethnic identity) thường có những nỗ lực đặc biệt để tái khẳng định cái căn cước đó trong cộng đồng những người cùng sắc tộc ở nước ngoài, bành trướng quyền lực của nhà nước và khi làm như vậy họ vượt qua các biên giới địa lý. Có thể vì vậy mà các nhà nước này đôi khi theo đuổi các chính sách ngoại giao can thiệp để “bảo vệ” kiều dân của họ ở nước ngoài.
Nước Đức giữa hai thế chiến cung cấp một ví dụ có sức thuyết phục nhất cho chính sách dân tộc vị chủng và can thiệp này. Adolf Hitler đã tích cực thúc đẩy căn cước chủng tộc Đức ra ngoài biên giới của Đế chế thứ Ba (Third Reich) và sử dụng tình trạng của người sắc tộc Đức như một cái cớ để xâm lược các nước láng giềng. Gần đây hơn, tổng thống Nga Vladimir Putin lấy việc bảo vệ người sắc tộc Nga trước một chính phủ bài Nga ở Kiev, Ukraine làm cái cớ để xâm lăng Crimea năm 2014; ông ta tuyên bố khi sáp nhập bán đảo này là ông ta “không thể bỏ mặc Crimea và cư dân của nó trong đau khổ”.
Mặc dù cả hai trường hợp này đều có những tác động bên ngoài riêng, hàm ý quan trọng của chúng là các thế lực theo chủ nghĩa dân tộc vị chủng cũng thường là những thế lực bành trướng bởi vì họ, hoặc nhiệt thành muốn bảo vệ sắc tộc của mình, hoặc muốn dùng nó làm một màn che tiện lợi cho chính sách can thiệp – hoặc kết hợp cả hai.
Thu hút kiều bào
Giờ đây Bắc Kinh đang bộc lộ ra những dấu hiệu cảnh báo về sự nổi lên của một thế lực theo chủ nghĩa dân tộc vị chủng; họ đang tích cực thu hút một khối lượng Hoa kiều khổng lồ, ở tận những nơi xa xôi, để thúc đẩy các mục tiêu chính sách ngoại giao của Trung Quốc.
Nhờ những cuộc di dân trong lịch sử và những cuộc định cư kinh tế gần đây hơn diễn ra cùng các dự án đầu tư dọc theo Sáng kiến Nhất lộ Nhất đới (Một vành đai, một con đường), lượng người sắc tộc Hoa (Hoa kiều) sinh sống bên ngoài lãnh thổ Trung Quốc và Đài Loan giờ đây đã lên tới gần 50 triệu người, lớn hơn dân số của Úc, Canada hoặc Kenya.
Hơn thế nữa, các cộng đồng Hoa kiều tập trung ở các quốc gia có tầm quan trọng về chiến lược và các nền kinh tế đang nổi lên chủ chốt, bao gồm 32 triệu người ở Đông Nam Á, 1 triệu người ở Úc, 400.000 người ở Pakistan, hơn 300.000 người ở Nam Phi và 250.000 người ở Brazil. Đại đa số người Hoa ở nước ngoài không còn giữ quốc tịch Trung Quốc, nhưng dù vậy đảng Cộng sản ở Bắc Kinh vẫn ban hành những chính sách lôi cuốn họ và củng cố một căn cước sắc tộc chung nhằm gắn bó lợi ích của Hoa kiều với lợi ích của chính họ.
Trước tiên, Bắc Kinh cố gắng tạo ra mối liên kết gần gũi hơn giữa Hoa kiều và nền kinh tế Trung Quốc. Bắc Kinh đã lèo lái dòng vốn đầu tư ra nước ngoài của mình thông qua các cộng đồng Hoa kiều này, đôi khi với mức độ cao không ngờ. Mối quan hệ này thấy rõ nhất ở Đông Nam Á, đặc biệt là ở Indonesia, nơi người Indonesia gốc Hoa chỉ chiếm từ hai đến ba phần trăm dân số nhưng tham gia tới 90 phần trăm hoạt động thương mại giữa hai nước. Mô hình ràng buộc này, làm giàu cho cả các nhà đầu tư của Trung Quốc lục địa lẫn những kẻ tiếp tay trong cộng đồng Hoa kiều bản địa, đang lan tràn khi Bắc Kinh theo đuổi những chính sách công khai nâng cao ảnh hưởng và hình ảnh của cộng đồng Hoa kiều ở các quốc gia mà họ sinh sống. Khi Bắc Kinh tiếp tục cải cách kinh tế, họ nói rõ với các cộng đồng Hoa kiều rằng, Hoa kiều cũng có chỗ đứng trong “Giấc mộng Trung Hoa” của ông Tập Cận Bình.
Hai là, Bắc Kinh đang củng cố các quan hệ về văn hóa với cộng đồng người Hoa hải ngoại thông qua một cơ quan quản lý Hoa kiều chính thức có tên là Cục Hoa kiều đặt dưới quyền Quốc vụ viện, tức hội đồng nhà nước Trung Quốc. Cơ quan này đã lấy lòng người Hoa hải ngoại bằng các chuyến du lịch về quê do nhà nước tài trợ để tham dự các trại hè thanh niên nhằm tìm cách đưa vào đầu óc giới trẻ phiên bản di sản văn hóa và căn cước sắc tộc Trung Quốc do Bắc Kinh đạo diễn. Cơ quan này cũng đã bắt đầu nới lỏng các hạn chế trong việc Hoa kiều di dân muốn nhận thẻ thường trú nhân ở Trung Quốc.
Hơn thế nữa, có một chiến dịch thận trọng từ những cấp cao nhất của chính phủ Trung Quốc kêu gọi các nhà khoa học, các học giả Trung Quốc trở về, khơi dậy lòng ái quốc của họ (cũng như đưa ra những phần thưởng hồi hương rất lớn). Chiến dịch tái biến đổi văn hóa trên quy mô toàn cầu này nhằm củng cố bản sắc Trung Quốc – tất nhiên là theo điều kiện của Bắc Kinh.
Cuối cùng và gây nhiều tranh cãi nhất là việc Bắc Kinh có vẻ như rất quan tâm tới chuyện vận động chính trị của cộng đồng Hoa kiều. Các cơ quan tình báo New Zealand gần đây đã tiến hành điều tra ông Dương Kiện (Yang Jian), một ứng cử viên quốc hội New Zealand có lập trường thân Bắc Kinh rõ rệt – vì những quan hệ mờ ám của ông này với quân đội Trung Quốc, tình báo Trung Quốc cũng như vì những khoản đóng góp cho đảng chính trị của ông ta từ các doanh nghiệp Trung Quốc có động cơ không rõ ràng như khoản quà tặng trị giá 104.000 đô la Mỹ từ công ty Inner Mongolia Rider Horse Industry Ltd. Đã có hàng loạt những trường hợp tương tự ở Úc.
Và Vụ Công tác Mặt trận Thống nhất – một cơ quan thuộc ủy ban trung ương đầy quyền năng của đảng Cộng sản Trung Quốc, đã từng nói bóng gió về việc tập hợp một mạng lưới các mối liên lạc của người Hoa ở nước ngoài. Mặc dù chưa có kết luận cuối cùng về nhiều trường hợp như vậy, nhưng chừng nào đảng Cộng sản ở Bắc Kinh còn nỗ lực định nghĩa căn cước sắc tộc Trung Hoa theo quan điểm của riêng mình và huy động các cộng đồng Hoa kiều tập hợp quanh cái căn cước do nhà nước vạch ra ấy và lợi dụng nó cho chính lợi ích của nhà nước thì những lời cáo buộc về mưu đồ chính trị còn gia tăng theo thời gian.
Một chiến lược ràng buộc kiều bào thật chặt chẽ có thể cung cấp lý do cho một chính sách ngoại giao hung hăng hơn của Trung Quốc. Bắc Kinh có thể biện minh cho việc từ bỏ chính sách không can thiệp đã có từ lâu của nước này nếu như người sắc tộc Trung Hoa ở ngoài biên giới bị đe dọa. Nếu như chuyện một người Mỹ gốc Hoa bị hãng hàng không United Airlines ngược đãi đã thu hút sự chú ý rất lớn trên báo chí Trung Quốc do nhà nước điều hành thì không khó hình dung bạo lực chống lại người sắc tộc Trung Quốc – giả dụ như ở một quốc gia “Nhất đới Nhất lộ”, nơi có nhiều người sắc tộc Trung Quốc làm công nhân xây dựng đường sá – sẽ biện minh cho một phản ứng trực tiếp hơn từ Bắc Kinh. Các nước như Sri Lanka, nơi đầu tư của Trung Quốc đã gặp phải sự phản kháng đôi khi bạo lực, có khả năng phù hợp với dự báo tồi tệ đó.
Tệ hơn nữa, khi một số thành viên của cộng đồng Hoa kiều tự thấy mình phụ thuộc vào đà thăng trầm của chính Trung Quốc, thì Bắc Kinh có thể vận động họ ủng hộ (hoặc biểu tình ủng hộ) các chính sách thân Bắc Kinh. Kiểu huy động này đã thường xuyên xảy ra nhằm chống lại các nhân vật như đức Đạt lai Lạt ma ở những nơi mà Bắc Kinh không cần động ngón tay cũng có thể gây đau đầu cho nước chủ nhà nào đón tiếp ông.
Ngay cả khi sự ràng buộc cộng đồng Hoa kiều được hiểu một cách thiện ý hơn cũng cho thấy rằng có vẻ như Bắc Kinh đang đi tới chỗ rắc rối. Sự gia tăng lợi ích của Trung Quốc ở nước ngoài – và cái phương cách áp chế mà Bắc Kinh theo đuổi nó – đã đồng hành với tình cảm chống Trung Quốc ngày càng tăng ở khắp nơi trên thế giới, minh chứng là những vụ xung đột ở Zambia và thái độ thù địch ở Sri Lanka. Bằng cách khuấy động thủ đoạn chính trị căn cước (identity politics) trên trường quốc tế, Bắc Kinh gặp rủi ro kích thích sâu hơn nữa những mối bất bình sắc tộc, mà đến lượt nó có thể đặt những khoản đầu tư hải ngoại ngày càng lớn của Trung Quốc vào vòng nguy hiểm và đặt cộng đồng Hoa kiều vào cuộc đối kháng sắc tộc. Điều đó đã đúng ở Malaysia, nơi nhiều người gốc Hoa đang mong Bắc Kinh chào đón họ quay về, có tiềm năng đặt ra một tình thế khó xử về di dân. Những người khác có thể đối phó với phản ứng bài Hoa bằng cách từ chối đầu tư hoặc cam kết từ Bắc Kinh và tìm cách biểu lộ công khai hơn lòng trung thành với đất nước họ đang sinh sống. Australia có thể là một phép thử sớm khi chính phủ nước này xem xét luật lệ mới, bao quát hơn, về hoạt động do thám và tài trợ tranh cử giữa lúc có những mối lo ngại về ảnh hưởng ngày càng tăng của Bắc Kinh.
Chống lại cuộc tấn công
Mặc dù mọi quốc gia đều có thể gặp khó khăn trong việc đương đầu với những thách thức có nguồn gốc từ nhà nước này, họ vẫn có những lựa chọn để tự phòng vệ, chống lại cuộc tấn công của chủ nghĩa dân tộc vị chủng. Những nỗ lực hòa nhập được suy nghĩ thấu đáo là biện pháp then chốt: một cộng đồng mà bản sắc được chấp nhận và tôn vinh ở địa phương sẽ ít có khả năng hướng về Bắc Kinh để tìm ý thức về vị trí hơn là một nhóm Hoa kiều bị cô lập và khinh rẻ. Hơn thế nữa, những yêu cầu mạnh mẽ hơn về tính minh bạch đối với các khoản tài trợ từ nước ngoài, cả với doanh nghiệp và ảnh hưởng chính trị, sẽ không chỉ “rọi đèn pha” vào sự can thiệp của Bắc Kinh mà còn có thể dập tắt những lời đồn đoán gây chia rẽ về lòng trung thành của các nhóm kiều bào có nguy cơ trở thành sự thật.
Thật vậy, chiến lược huy động chủ nghĩa dân tộc vị chủng tiềm ẩn nhiều rủi ro nghiêm trọng cho chính cái cộng đồng mà nó muốn tìm cách tăng sức mạnh. Nếu như Bắc Kinh cố gắng lợi dụng cộng đồng Hoa kiều để tăng sức mạnh cho một chính sách ngoại giao mang tính can thiệp và hung hăng hơn thì cộng đồng người Hoa ở hải ngoại nằm trong số những thành phần đầu tiên bị thiệt hại. Nỗ lực của Bắc Kinh sử dụng sự hợp nhất về sắc tộc để biện minh cho những hành động xâm lấn ở nước ngoài có thể kích hoạt thành kiến bài Hoa chống lại những cộng đồng Hoa kiều đã có gốc rễ sâu xa – và làm cho những người mà Trung Quốc tìm cách lôi kéo trở nên bị xa lánh và cô lập.
Trung Quốc có một di sản lâu dài và nhiều tầng nấc: dân tộc, truyền thống và văn hóa Trung Hoa được tôn trọng trên khắp thế giới. Dù sao, chính dân tộc Trung Hoa mới là trường tồn trong khi các hoàng đế, vương triều và các chính phủ đều chỉ đến và đi mà thôi.
Nếu Bắc Kinh thành công trong việc khơi dậy chủ nghĩa dân tộc vị chủng cho những mục tiêu của họ và biến nhân dân thành vật cầm cố thì tất cả chúng ta sẽ khốn khó hơn trước.

TÙNG THIỆN VƯƠNG MIÊN THẨM VÀ BIẾN ĐỘNG “GIẶC CHÀY VÔI”

TÙNG THIỆN VƯƠNG MIÊN THẨM VÀ BIẾN ĐỘNG “GIẶC CHÀY VÔI” (Trong các bạn trên FB, có những người là cháu trực hệ của Tùng Thiện vương nê...