14.3.18

GẠC MA - CÔ LIN - LEN ĐAO 14-3-1988

TOÀN CẢNH TRẬN CHIẾN GẠC MA - CÔ LIN - LEN ĐAO
Trần Đức Anh Sơn

1. Quần đảo Trường Sa trước trận chiến Gạc Ma - Cô Lin - Len Đao

Sau khi tiếp quản quần đảo Trường Sa từ Việt Nam Cộng hòa vào đầu tháng 5/1975, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (sau đó là Cộng hòa XHCN Việt Nam) tiếp tục thực thi chủ quyền trên quần đảo này. Từ năm 1976, cùng với việc thường xuyên tăng cường lực lượng, vũ khí và phương tiện quân sự cho công tác phòng thủ các đảo, Hải quân Việt Nam đã bắt đầu triển khai xây dựng và củng cố các công trình phòng thủ (công sự, trận địa, hầm hào chiến đấu, đài quan sát, sở chỉ huy…) trên các đảo thuộc quần đảo Trường Sa.

Ngày 14/7/1978, Bộ Quốc phòng nước Cộng hòa XHCN Việt Nam ra Quyết định số 478/QĐ-QP, thành lập căn cứ Cam Ranh - Sư đoàn 402, thuộc Bộ Tư lệnh Quân chủng Hải quân; với nhiệm vụ xây dựng sở chỉ huy của căn cứ đủ sức bảo đảm cho Bộ Tư lệnh Quân chủng Hải quân có thể chỉ huy được lực lượng của mình và chỉ huy tác chiến quân binh chủng hợp thành khi xảy ra chiến đấu ở khu vực Trường Sa.

Về vận chuyển chi viện cho Trường Sa, từ tháng 3 đến tháng 8/1977, Đoàn 125 (Hải đoàn 125) đã chở 2.630 tấn hàng, vật liệu xây dựng cùng với Hải đội 171 hoàn thành kế hoạch vận chuyển 3.730 tấn hàng cho 5 đảo: Trường Sa, Sinh Tồn, Nam Yết, Song Tử Tây và Sơn Ca, phục vụ cho bộ đội phòng thủ đảo và xây dựng các công trình quân sự ở đây.

Trước tình hình Philippines đưa quân chiếm đóng bất hợp pháp bãi An Nhơn và tăng cường hoạt động thăm dò, trinh sát trái phép quanh các khu vực đảo của ta đã đóng giữ (tháng 3/1978), nhằm bảo vệ vững chắc chủ quyền biển đảo, Hải quân Việt Nam đã đưa lực lượng ra đóng thêm một số đảo thuộc quần đảo Trường Sa để tăng cường khả năng củng cố phòng thủ bảo vệ quần đảo này.
Một mặt, Hải quân Việt Nam tập trung các lực lượng tàu vận tải, tàu đánh cá, lực lượng bộ binh của Trung đoàn 146, bộ đội đặc công của Lữ đoàn 126, Trung đoàn Công binh 83 ra chốt giữ bảo vệ các đảo: Trường Sa Đông (Đá Giữa), An Bang, Phan Vinh (Hòn Sập) và Sinh Tồn Đông; mặt khác, chỉ thị cho các đơn vị đang đóng giữ bảo vệ đảo đẩy mạnh các hoạt động huấn luyện, quan sát nắm chắc tình hình trên biển, sẵn sàng chiến đấu và đánh thắng ngay từ trận đầu khi địch có những hành động vũ lực xâm phạm chủ quyền đối với các đảo.

Theo đó, ngày 10/3/1978, một phân đội của Lữ đoàn 126 đã đổ bộ lên đảo An Bang. Ngày 04/4, 19 cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 146 ra đóng giữ, bảo vệ đảo Trường Sa Đông. Từ tháng 3 đến tháng 5/1978, các tàu HQ 605, HQ 601, HQ 681, HQ 606 đã hoàn thành nhiệm vụ vận chuyển bộ đội ra chốt giữ, bảo vệ và xây dựng công trình phòng thủ trên các đảo: Trường Sa Đông, An Bang, Phan Vinh, Sinh Tồn Đông và bãi đá Thuyền Chài.

Trong bối cảnh đất nước còn bộn bề khó khăn sau khi trải qua chiến tranh chống Pháp, chống Mỹ, giúp Campuchia thoát nạn diệt chủng và chiến tranh biên giới 1979 hao người tốn của, Việt Nam vẫn tập trung mọi nguồn lực có thể để củng cố khả năng phòng thủ để bảo vệ quần đảo Trường Sa của Tổ quốc.
Năm 1978, Hải đoàn 125 đã vận chuyển 17.763 tấn hàng hóa, vũ khí và 5.372 lượt người phục vụ nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Trường Sa. Đây là khối lượng hàng và người lớn nhất chi viện cho bộ đội bảo vệ chủ quyền quần đảo Trường Sa kể từ tháng 4/1975.


Tháng 11/1980, hai tàu HQ 612 và HQ 616 trực bảo vệ Trường Sa đã nêu cao cảnh giác, phát hiện và đối phó kịp thời và hiệu quả với hành động xâm nhập vây ép đảo An Bang của lực lượng quân sự nước ngoài, giữ vững an ninh, chủ quyền đảo.

Từ năm 1980, Hải quân thực hiện giai đoạn 2 xây dựng quần đảo Trường Sa (1980 - 1985), tăng cường biên chế, trang bị và xây dựng hệ thống công trình chiến đấu kiên cố, vững chắc trên quần đảo nhằm nâng cao một bước có tính chất cơ bản, lâu dài khả năng chiến đấu phòng thủ đảo. 

Cũng năm 1980, Lữ đoàn 125 đã vận chuyển 7.000 tấn; năm 1981, vận chuyển 6.532 tấn nguyên vật liệu xây dựng, vũ khí, trang bị kỹ thuật quân sự và 1.252 lượt cán bộ, chiến sĩ thay phiên nhau luân chuyển ra bảo vệ và xây dựng ở quần đảo Trường Sa. Đặc biệt, để tăng cường sức mạnh sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu thắng lợi trong mọi tình huống, từ năm 1980, chúng ta khẩn trương bổ sung vũ khí, phương tiện quân sự cho lực lượng phòng thủ bảo vệ các đảo thuộc quần đảo Trường Sa.
Năm 1982, đã vận chuyển được 19.577 tấn hàng và 5.105 lượt người từ đất liền ra đảo và từ đảo về đất liền an toàn tuyệt đối. Năm 1983, là 14.946 tấn hàng và 4.618 lượt người, năm 1984 là 2.970 tấn. Bước sang năm 1985, trước yêu cầu cấp bách của yêu cầu bảo vệ chủ quyền lãnh thổ ở Trường Sa, Bộ Quốc phòng quyết định đưa gấp một khối lượng lớn vũ khí, trang bị kỹ thuật, vật liệu xây dựng ra tăng cường sức mạnh chiến đấu quần đảo.

Lữ đoàn 125 đã hiệp đồng, phối hợp chặt chẽ với các đơn vị thuộc Vùng 4 Hải quân, Cục Kỹ thuật, Cục Hậu cần, Phòng Công trình triển khai các bước giao nhận, vận chuyển, bảo đảm các mặt… nên chỉ trong thời gian từ tháng 3 đến tháng 7, đã vận chuyển được 3.885 tấn hàng quân sự, 573 lượt người (đạt 111% kế hoạch).

Sang năm 1986, theo chỉ thị của Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng, Quân chủng Hải quân triển khai tiếp kế hoạch 5 năm 1986 - 1990 vận tải chi viện quần đảo Trường Sa, nhằm tiếp tục xây dựng cơ bản, lâu dài, kiên cố các công trình phòng thủ và tăng cường sức mạnh bảo vệ đảo. Thực hiện nhiệm vụ cấp bách này, ngay trong năm 1986, Quân chủng đã khắc phục khó khăn về phương tiện hiện có trong biên chế, vận chuyển được 2.604 tấn hàng và 970 lượt người ra Trường Sa an toàn.
Song song với thiết lập chủ quyền và bố trí lực lượng phòng thủ các đảo thuộc quần đảo Trường Sa mà đã tiếp quản từ chính quyền Việt Nam Cộng hòa, Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (sau đó là Cộng hòa XHCN Việt Nam) tiếp tục đấu tranh pháp lý với chính phủ các nước hiện đang chiếm giữ trái phép các đảo và quần đảo thuộc chủ quyền của Việt Nam.
Từ sau ngày đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam (tháng 01/1974), Trung Quốc tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động chính trị, ngoại giao, pháp lý, hành chính và quân sự để đánh chiếm quần đảo Trường Sa.
Từ cuối năm 1986, giả dạng các tàu đánh cá, tàu nghiên cứu, Trung Quốc đẩy mạnh các hoạt động xuống vùng biển phía nam, tăng số lần tàu chiến, tàu vận tải hoạt động trinh sát, thăm dò ở khu vực Trường Sa. Đặc biệt là từ ngày 24 đến 30/12/1986, máy bay và tàu chiến của Trung Quốc tiến hành các hoạt động trinh sát từ đảo Song Tử Tây đến đảo Thuyền Chài, gây căng thẳng trên vùng biển của Việt Nam.
Đầu năm 1987, Trung Quốc tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động ngoại giao và tăng cường đưa tàu chiến đi lại gần khu vực đảo Thuyền Chài. Trung Quốc đã đưa tàu Hải Dương 4 tiến hành trinh sát phần lớn các đảo thuộc quần đảo Trường Sa, trong đó có cả những đảo ta đang chốt giữ; tăng cường số lượt tàu qua lại khu vực các đảo An Bang, Thuyền Chài, Trường Sa, Trường Sa Đông, Song Tử Tây, có lúc chỉ cách ta khoảng một hải lý để thị uy. Trung Quốc sử dụng lực lượng hải quân khảo sát địa chất bất hợp pháp trên vùng biển quần đảo Trường Sa, tìm vị trí xây dựng được một trạm quan trắc hải dương theo yêu cầu của tổ chức khí tượng - hải dương thế giới; đồng thời tăng cường các hoạt động xâm nhập, khai thác trái phép tài nguyên vào sâu vùng biển của ta. Cũng thời kỳ này, Malaysia đưa lực lượng chiếm giữ bất hợp pháp các bãi đá Kỳ Vân và Kiệu Ngựa ở phía nam quần đảo Trường Sa.

2. Phản ứng của Việt Nam trước trận chiến Gạc Ma - Cô Lin - Len Đao

Trước tình hình các nước tăng cường tranh chấp ở quần đảo Trường Sa, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương đã chỉ thị cho Quân chủng Hải quân đưa lực lượng ra củng cố, giữ vững các đảo đang chốt giữ, tăng cường thế phòng thủ các đảo theo từng cụm, từng khu vực, bảo đảm khi có chiến sự xảy ra có thể chi viện hỗ trợ kịp thời giữ vững đảo; đưa lực lượng đóng giữ một số bãi đá ngầm trong khu vực quần đảo Trường Sa. 

Đầu năm 1987, Quân chủng Hải quân tổ chức lực lượng đóng giữ bãi cạn, đá ngầm Thuyền Chài (tháng 3/1987), tiếp đó, tổ chức xây dựng kế hoạch bảo vệ quần đảo Trường Sa 3 năm (1988 - 1990).
Xác định Trung Quốc có âm mưu thôn tính các đảo phía tây quần đảo Trường Sa và chiếm đóng xen kẽ vào các cụm đảo do lực lượng hải quân của ta đang đóng giữ, nhằm thiết lập tuyến ngăn chặn các hoạt động của ta từ đất liền đến các đảo thuộc quần đảo Trường Sa, Bộ Tư lệnh Hải quân đã đề ra kế hoạch triển khai lực lượng đóng giữ trên 11 bãi cạn, đá ngầm, cụ thể: Năm 1988, đóng giữ 4 vị trí: Đá Tây, Chữ Thập, Đá Lớn và Tiên Nữ; năm 1989, đóng giữ tiếp các bãi: Đá Thị, Tốc Tan, Đá Lát, Ga Ven, Đá Đông, Châu Viên và Núi Le. 

Ngày 06/11/1987, Bộ Quốc phòng chính thức phê chuẩn kế hoạch tác chiến trên và ban hành Mệnh lệnh số 1679/ML-QP, giao nhiệm vụ cho Bộ Tư lệnh Quân chủng Hải quân: “Đưa lực lượng ra đóng giữ các bãi cạn chưa có người, không chờ xin chỉ thị của cấp trên, trước mắt đưa ngay lực lượng ra đóng giữ Đá Tây, Chữ Thập, Đá Lớn, Tiên Nữ” 

Ngay sau đó, Bộ Tư lệnh Quân chủng Hải quân ra lệnh chuyển trạng thái sẵn sàng chiến đấu đối với lực lượng bảo vệ các đảo thuộc quần đảo Trường Sa; đồng thời chỉ thị cho Lữ đoàn 125, Lữ đoàn 172, Trung đoàn 83 vào trạng thái sẵn sàng chiến đấu, chuẩn bị lực lượng, phương tiện, sẵn sàng cơ động chiến đấu, ra xây dựng các công trình phòng thủ trên các bãi đá ta mới đóng giữ; điều chuyển một số tàu thuộc các lữ đoàn 146, 125 đưa bộ đội đến tăng cường lực lượng đóng giữ các đảo thuộc quần đảo Trường Sa. 

Trên cơ sở báo cáo của Bộ Tổng Tham mưu và Quân chủng Hải quân về diễn biến tình hình ở quần đảo Trường Sa, Bộ Chính trị đã ra Nghị quyết 06-NQ/TW ngày 30/11/1987, về đấu tranh bảo vệ chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Sau khi có Nghị quyết của Bộ Chính trị, Quân chủng Hải quân tăng cường lực lượng, xây dựng thế trận phòng thủ trên các đảo và vùng biển phía Nam. Quân chủng tăng cường thêm phương tiện cho Vùng 4 Hải quân, bảo vệ vị trí neo đậu cho tàu thuyền tại khu vực giàn khoan. Hàng ngày duy trì 2 tàu bảo vệ khu vực khai thác dầu khí, bảo vệ an toàn cho công tác thăm dò và khai thác dầu khí. Hoạt động tuần tiễu ở khu vực giàn khoan của lực lượng Hải quân lúc cao nhất có 6 tàu của Lữ đoàn 171 và Hải đoàn 129. Một số tàu đánh cá đến hoạt động trái phép ở khu vực thềm lục địa, hoặc tàu lạ xuất hiện bị Hải quân ta ngăn chặn xua đuổi, bảo vệ an toàn cho các hoạt động thăm dò, khai thác tài nguyên thiên nhiên trong các vùng biển và thềm lục địa của Việt Nam.
Đầu tháng 01/1988, nhận thấy tình hình khu vực quần đảo Trường Sa có chiều hướng phức tạp, Hải quân Việt Nam xác định, nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền vùng biển và quần đảo Trường Sa là nhiệm vụ quan trọng nhất, khẩn trương nhất và cũng là vinh dự của Quân chủng; tranh thủ thời gian, triển khai lực lượng đóng giữ trên các đảo, hoàn thành kế hoạch đóng giữ các đảo trong ba năm (1988 - 1990) ngay trong năm 1988…; đồng thời tăng cường số lần hoạt động tuần tiễu, bảo vệ vịnh Bắc Bộ, vùng biển Tây Nam. 

Bộ Tư lệnh Quân chủng Hải quân ra lệnh điều động lực lượng tàu, bộ đội công binh và lực lượng của cơ quan chuyển vào Cam Ranh, sẵn sàng đưa bộ đội ra đóng giữ đảo; chỉ đạo các đơn vị làm tốt công tác tư tưởng cho cán bộ chiến sỹ, thực hiện tốt việc di chuyển cơ quan, chỉ đạo triển khai tăng cường thông tin liên lạc ở Cam Ranh, Thành phố Hồ Chí Minh, quần đảo Trường Sa, chú trọng mạng thông tin hiệp đồng quân binh chủng; chỉ đạo bảo đảm hàng hải, thả phao tiêu đánh dấu luồng lạch ở Trường Sa; chỉ đạo công tác vật tư, tài chính, công binh bảo đảm hoàn thành kế hoạch xây dựng công trình, công sự chiến đấu, thiết bị chiến trường ở quần đảo Trường Sa; chỉ đạo tăng cường công tác nắm địch, tăng thêm phương tiện, lực lượng nắm địch, chỉ đạo công tác tuyển quân và huấn luyện chiến đấu.
Tiếp tục các hành động xâm chiếm bất hợp pháp các đảo thuộc quần đảo Trường Sa, ngày 22/01/1988, Trung Quốc đưa 1 tàu hộ vệ tên lửa, 1 tàu tuần dương, 1 tàu dầu, 1 tàu đổ bộ và một số tàu chiến khác đến chiếm đóng bất hợp pháp đảo Chữ Thập. Tiếp đó, họ đã đưa một lực lượng lớn gồm 2 tàu hộ vệ tên lửa, 2 tàu khu trục tên lửa, 4 tàu bảo đảm đậu xung quanh đảo, khống chế không cho tàu thuyền nước ta qua lại để bảo vệ đảo Chữ Thập.

Hải quân Trung Quốc còn tổ chức các cụm tuyến hoạt động gồm: cụm thứ nhất lấy Hoàng Sa, mà Trung Quốc đang chiếm đóng bất hợp pháp từ 1974, làm căn cứ thường xuyên, có tàu hộ vệ pháo, hộ vệ tên lửa, khu trục tên lửa, tuần dương, các tàu ngầm và tàu hộ tống nhằm ngăn cản, uy hiếp lực lượng tàu Hải quân Việt Nam hoạt động ở vịnh Bắc Bộ, gây khó khăn cho ta trong việc triển khai hoạt động bảo vệ vùng đảo phía Nam; cụm thứ 2 ngăn chân lực lượng Hải quân Việt Nam ở bán đảo Cam Ranh, đảo Phú Quý (Cù lao Thu) và cụm Chữ Thập, âm mưu khống chế Việt Nam ở khu vực Trường Sa, nếu có thời cơ phát triển lực lượng xuống khu vực phía nam Biển Đông.

Trước tình hình trên, ngày 23/01/1988, Bộ Tư lệnh Hải quân đã điều tàu HQ 613 thuộc Vùng 4 Hải quân chở lực lượng và vật liệu ra đảo Tiên Nữ. Mặc dù phải qua hai ngày vượt sóng to, gió lớn, nhưng khi ra đến đảo, bộ đội đã nhanh chóng xây dựng công sự, nhà ở vững chắc để đảm bảo sinh hoạt cho cán bộ, chiến sĩ giữ đảo.

Tiếp đó, ngày 27/01/1988, Bộ Tư lệnh Hải quân quyết định đưa các tàu HQ 611 và HQ 712 chở 1 đại đội công binh và hai khung đảo của Lữ đoàn 146 đến chiếm giữ đảo Chữ Thập. Ngày 29/01, tàu bị hỏng máy phải dừng lại sửa chữa. Sáng ngày 30/01, khi cách đảo 5 hải lý, thì phát hiện 4 tàu chiến Trung Quốc, gồm 2 tàu hộ vệ tên lửa, 2 tàu hộ vệ pháo ra ngăn cản, có lúc chỉ cách 300 m, không cho tiếp cận đảo, tàu phải quay về Trường Sa Đông, không thực hiện được việc đóng giữ đảo Chữ Thập như kế hoạch đề ra. 

Ngày 04/02/1988, Hải quân Việt Nam nhận định: Trung Quốc đã chiếm đóng bất hợp pháp trên đảo Chữ Thập, họ có thể mở rộng phạm vi chiếm đóng sang các đảo Châu Viên, Đá Đông, Đá Nam, Tốc Tan và đóng xen kẽ những bãi đá ta đang đóng giữ. Trước mắt, ta chưa đưa quân ra đóng xen kẽ ở đảo Chữ Thập vì họ ngăn chặn ta từ xa. Do đó, ta phải nhanh chóng đưa lực lượng ra đóng giữ Đá Lát, Đá Lớn, Châu Viên.
Bộ Tư lệnh Quân chủng Hải quân thành lập Sở chỉ huy tiền phương Quân chủng tại Cam Ranh, do đồng chí Giáp Văn Cương làm Tư lệnh, kiêm Tư lệnh Vùng 4 để chỉ huy các cơ quan, đơn vị kịp thời giải quyết mọi mặt theo yêu cầu đóng giữ, bảo vệ Trường Sa và DK1
.
Triển khai nhiệm vụ đưa lực lượng ra đóng giữ đảo, tàu HQ 611 và tàu HQ 712 đưa lực lượng công binh và bộ đội của Lữ đoàn 146 đến đảo Đá Lát. Bộ đội phân chia lực lượng thành 3 tổ chiến đấu canh gác, đồng thời tổ chức lực lượng làm nhà cấp ba. Đến ngày 20/02, lực lượng công binh được sự hỗ trợ của lực lượng đóng giữ đảo hoàn thành nhà và bàn giao cho cho lực lượng bảo vệ đảo.

Ngày 13/02, Lữ đoàn 125 cho tàu HQ 505 kéo tàu LCU 556 cùng bộ phận làm nhà cao chân đóng giữ đảo Đá Lớn. Trong khi ta đang tiến về phía đảo, thì phát hiện tàu khu trục và hai tàu hộ vệ tên lửa của Trung Quốc cũng tiến về phía Đá Lớn. Các tàu này đã có những hành động ngăn cản, uy hiếp tàu của ta. Tàu HQ 505 bình tĩnh khôn khéo đưa tàu LUC 556 tiếp tục tiến về phía bắc của đảo. 

Ngày 20/02, sau khi quan sát thăm dò luồng, tàu HQ 556 tiến vào phía vào phía nam đảo an toàn. Tiếp đó, tàu Đại Lãnh của Công ty trục vớt cứu hộ Sài Gòn kéo tàu HQ 582 và pông-tông Đ02, xuất phát từ thành phố Hồ Chí Minh, đến ngày 01/3, vào đến vị trí phía bắc đảo Đá Lớn. Cán bộ, chiến sĩ trên pông-tông Đ02 và lực lượng trên tàu LCU đã đến triển khai lực lượng, xây dựng thế trận phòng thủ bảo vệ đảo Đá Lớn.

Tháng 02/1988, Trung Quốc tăng thêm 4 tàu hộ vệ tên lửa, hộ vệ pháo xuống hoạt động ở khu vực quần đảo Trường Sa, gây tình hình hết sức căng thẳng. Ngày 18/02, Hải quân Việt Nam xác định: Ta phải kiên quyết đóng nhanh, đóng đồng thời tất cả các đảo đã có kế hoạch. Nếu cần, có thể dùng mọi loại tàu để ủi bãi, không làm như vậy sẽ không ngăn chặn được Trung Quốc tiếp tục mở rộng phạm vi chiếm đóng thêm. 

Giữa tháng 02/1988, Quân chủng Hải quân đã điều động Lữ đoàn 125 đưa pông-tông 07 ra giữ Tốc Tan, đồng thời, đưa lực lượng, phương tiện của Lữ đoàn 146 và lực lượng công binh của Trung đoàn 83 ra xây dựng, cắm cờ, canh gác, chốt giữ đảo Đá Đông, một đảo chìm rộng giữ vị trí quan trọng trong quần đảo.

Trong bối cảnh hải quân Trung Quốc có thể khiêu khích ngăn chặn bất cứ lúc nào, song các tàu của ta đã bình tĩnh vượt qua sóng gió đưa bộ đội và vật liệu đến đảo an toàn. Nhờ sự kết hợp chặt chẽ giữa các lực lượng tàu, đảo, công binh, công việc triển khai lực lượng bảo vệ đảo, xây dựng nhà, công sự đã hoàn thành theo đúng kế hoạch, bảo đảm yêu cầu kỹ thuật. Các tàu HQ 605 và HQ 604 tiếp tục ở lại làm nhiệm vụ bảo vệ vòng ngoài Đá Đông.

Như vậy, đến tháng 03/1988, lực lượng Hải quân Việt Nam đã triển khai xây dựng xong thế trận phòng thủ trên các đảo: Đá Lát, Đá Đông, Tốc Tan, Tiên Nữ và Đá Lớn, đưa tổng số đảo đóng giữ của ta lên 16 đảo, trong đó gồm 9 đảo nổi, 7 đảo chìm.

3. Diễn biến trận chiến Gạc Ma - Cô Lin - Len Đao

Sau khi chiếm giữ trái phép các đảo, đá: Chữ Thập, Châu Viên, Huy gơ (tiếng Anh: Hughes Reef, sau đổi tên là đá Tư Nghĩa), Ga Ven và Xu Bi, quân Trung Quốc tiếp tục chuẩn bị thực hiện ý đồ thôn tính 3 đảo: Gạc Ma, Cô Lin, Len Đao.

Đầu tháng 3/1988, Hải quân Trung Quốc huy động lực lượng của hai hạm đội xuống khu vực quần đảo Trường Sa, tăng số tàu hoạt động ở đây thường xuyên có từ 9 đến 12 tàu chiến, gồm: tàu khu trục tên lửa, 7 tàu hộ vệ tên lửa, 2 tàu hộ vệ pháo, 2 tàu đổ bộ; tàu hỗ trợ gồm 3 tàu vận tải LSM, tàu đo đạc, tàu kéo và một pông-tông lớn.

Trước tình hình đó, ngày 04/3/1988, Hải quân Việt Nam xác định: Trung Quốc có thể chiếm thêm một số bãi cạn xung quanh cụm đảo Sinh Tồn, Nam Yết và khu vực Đông kinh tuyến 115o, trong đó, Gạc Ma giữ vị trí quan trọng, nếu Trung Quốc chiếm giữ sẽ khống chế đường qua lại tiếp tế của ta cho các đảo ta đang chiếm giữ, vì vậy phải quyết tâm đưa bộ đội đóng giữ các đảo: Gạc Ma, Cô Lin và Len Đao.
Triển khai chủ trương trên, ngày 12/3/1988, tàu HQ 605 (Lữ đoàn 125), do đồng chí Lê Lệnh Sơn làm Thuyền trưởng, xuất phát từ đảo Đá Đông đến đóng giữ đảo Len Đao. Sau 29 giờ vượt sóng to, gió lớn, tàu HQ 605 đến đảo Len Đao và cắm cờ Tổ quốc lên đảo (lúc 5 giờ ngày 14/3/1988), khẳng định chủ quyền và quyết tâm bảo vệ đảo của bộ đội ta.

Tiếp đó, 9 giờ ngày 13/3/1988, tàu HQ 604 do đồng chí Vũ Phi Trừ làm Thuyền trưởng và tàu HQ 505 do đồng chí Vũ Huy Lễ làm Thuyền trưởng, xuất phát từ đảo Đá Lớn tiến về đảo Gạc Ma và đảo Cô Lin. Phối hợp với 2 tàu HQ 604 và HQ 505 có 2 phân đội công binh (70 người) thuộc Trung đoàn 83, 4 tổ chiến đấu (22 người) thuộc Lữ đoàn 146, do đồng chí Trần Đức Thông, Phó Lữ đoàn trưởng chỉ huy và 4 chiến sĩ đo đạc của Đoàn đo đạc và biên vẽ bản đồ (Bộ Tổng Tham mưu). 

Sau khi 2 tàu của ta thả neo được 30 phút, tàu hộ vệ của Trung Quốc từ đá Huy Gơ chạy về phía đảo Gạc Ma. Tàu Trung Quốc áp sát tàu HQ 604 của ta, dùng loa gọi sang khiêu khích, thay nhau cơ động, chạy quanh đảo Gạc Ma, uy hiếp lực lượng của Việt Nam. Cán bộ, chiến sĩ 2 tàu HQ 604 và HQ 605 động viên nhau giữ vững quyết tâm không để mắc mưu, kiên trì neo giữ quanh đảo. 

Trước tình hình căng thẳng do Hải quân Trung Quốc gây ra, lúc 21 giờ ngày 13/3, Bộ Tư lệnh Quân chủng Hải quân chỉ thị cho các đồng chí: Trần Đức Thông, Vũ Huy Lễ, Vũ Phi Trừ chỉ huy bộ đội quyết giữ vững các đảo Gạc Ma và Cô Lin; khẩn trương thả xuồng máy, xuồng nhôm, chuyển vật liệu làm nhà lên đảo ngay trong đêm ngày 13/3. Tàu HQ 604 cùng lực lượng công binh Trung đoàn 83 chuyển vật liệu lên đảo Gạc Ma, tiếp đó, lực lượng của Lữ đoàn 146 bí mật đổ bộ, cắm cờ Tổ quốc và triển khai 4 tổ bảo vệ đảo.

Lúc này, Trung Quốc điều thêm 2 tàu hộ vệ trang bị pháo 100 ly đến khu vực đảo Gạc Ma. 6 giờ, ngày 14/3/1988, tàu Trung Quốc thả 3 thuyền nhôm và 40 quân đổ bộ lên đảo tiến vào giật cờ ta. Lập tức, thiếu úy Trần Văn Phương, hạ sĩ Nguyễn Văn Lanh cùng đồng đội dũng cảm giành lại cờ. Lính Trung Quốc đã nổ súng bắn vào bộ đội ta, làm thiếu úy Trần Văn Phương hy sinh, hạ sĩ Nguyễn Văn Lanh bị thương. Mặc dù bị đối phương uy hiếp và nổ súng tấn công, nhưng bộ đội ta vẫn kiên cường đấu tranh bảo vệ chủ quyền hải đảo của Tổ quốc.

Không ép được lực lượng Việt Nam rút khỏi đảo, 7 giờ 30 phút ngày 14/3, 2 tàu Trung Quốc bắn pháo 100 ly gây hỏng nặng tàu HQ 604 của Việt Nam, rồi bất ngờ cho quân xông về phía tàu ta. Thuyền trưởng Vũ Phi Trừ đã bình tĩnh chỉ huy bộ đội trên tàu sử dụng các loại súng AK, RPĐ, B40, B41 đánh trả quyết liệt. Trận đánh diễn ra mỗi lúc thêm ác liệt. Tàu Trung Quốc tiếp tục nã pháo dồn dập làm tàu ta bị thủng nhiều lỗ và chìm dần xuống biển. Thuyền trưởng Vũ Phi Trừ, Phó Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 146 Trần Đức Thông và cùng một số cán bộ, chiến sĩ tàu đã anh dũng hy sinh cùng tàu HQ 604 ở khu vực đảo Gạc Ma.

Tại đảo Cô Lin, 6 giờ ngày 14/3/1988, tàu HQ 505 đã cắm 2 lá cờ lên đảo. Khi tàu HQ 604 của Việt Nam bị chìm, thuyền trưởng tàu HQ 505 Vũ Huy Lễ ra lệnh nhổ neo ủi bãi. Phát hiện thấy ta cơ động lên bãi, 2 tàu của Trung Quốc quay sang tiến công tàu HQ 505. Bất chấp hiểm nguy, tàu HQ 505 chạy hết tốc độ, trườn lên được 2/3 thân tàu thì bốc cháy. 

8 giờ 15 phút ngày 14/3, bộ đội trên tàu HQ 505 vừa tiến hành dập lửa cứu tàu, bảo vệ đảo, vừa đưa xuồng đến cứu vớt cán bộ, chiến sĩ của tàu HQ 604 vừa bị Trung Quốc đánh chìm. Cán bộ, chiến sĩ của tàu HQ 505 đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền ở đảo Cô Lin.
Ở hướng đảo Len Đao, 8 giờ 20 phút ngày 14/3, tàu Trung Quốc bắn chìm tàu HQ 605 của Việt Nam. Cán bộ, chiến sĩ của tàu HQ-605 phải dìu nhau bơi về đảo Sinh Tồn (đến 6 giờ ngày 15/3 mới lên đến đảo).

Trong trận chiến đấu ngày 14/3/1988, mặc dù tương quan lực lượng chênh lệch, phương tiện vũ khí hạn chế, cán bộ và chiến sĩ Hải quân Nhân dân Việt Nam đã chiến đấu dũng cảm, không quản hy sinh, quyết tử đến cùng để bảo vệ chủ quyền hải đảo của Tổ quốc: 3 đồng chí hy sinh, 11 đồng chí bị thương, 70 đồng chí bị mất tích (sau này, Trung Quốc trao trả cho Việt Nam 9 người, còn 61 người mất tích), 3 tàu bị bắn cháy và chìm.

Trận hải chiến Gạc Ma - Cô Lin - Len Đao đã đi vào lịch sử chiến tranh chống Trung Quốc xâm lược như một biểu tượng của tinh thần quả cảm và sự hy sinh anh dũng của Hải quân và công binh Việt Nam.
Sau này, Chủ tịch nước Cộng hòa XHCN Việt Nam tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân các tập thể và cá nhân sau: Tàu HQ 505 thuộc Lữ đoàn 125 Hải quân (8/1/1989); Tàu HQ 931 thuộc Hải đội 413 Lữ đoàn 955 Vùng 4 hải quân (13/12/1989); Vũ Huy Lễ, Thuyền trưởng tàu HQ 505 (6/1/1989); Liệt sĩ Trần Văn Phương, Chỉ huy phó đảo Gạc Ma, Lữ đoàn 146 Hải quân (6/1/1989); Liệt sĩ Trần Đức Thông, Phó Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 146 (3/12/1989); Liệt sĩ Vũ Phi Trừ, Thuyền trưởng tàu HQ 604, Lữ đoàn 125 Hải quân (3/12/1989); Nguyễn Văn Lanh, Tiểu đội trưởng, Trung đoàn 83 Hải quân (3/12/1989). Ngoài ra còn có hàng chục tập thể và cá nhân được tặng thưởng Huân chương Quân công, Huân chương Chiến công các loại.

(Tổng hợp từ nhiều nguồn tư liệu trên internet)

1.3.18

Hồi ký của NS. NGUYỄN VĂN ĐÔNG

BA LÔ,CÂY ĐÀN và MỐI TÌNH HỌC TRÒ CỦA SÀi GÒN THƯƠNG NHỚ

Vào năm 1956, đơn vị tôi đóng quân ở Chiến khu Đồng Tháp Mười, được xem là mặt trận tiền tiêu nóng bỏng vào thời bấy giờ. Khi ấy, tôi mang cấp bực Trung úy, mới 24 tuổi đời, còn bạch diện thư sinh. Tuy hồn vẫn còn xanh nhưng tâm tình đã nung trong lửa chín ở quân trường. Chính tại Đồng Tháp Mười, vùng đất địa linh nhân kiệt, đã gợi hứng cho tôi sáng tác những bản hùng ca như "Súng Đàn", "Vui Ra Đi", một thuở được hát vang trong Chiến dịch Thoại Ngọc Hầu. Rồi tiếp sau đó là các bản nhạc “Phiên Gác Đêm Xuân”, “Chiều Mưa Biên Giới”, “Sắc Hoa Màu Nhớ” được ra đời cũng tại vùng đất thiêng này. Khi đi vào vùng hỏa tuyến, là chàng trai trẻ độc thân, với một mối tình nho nhỏ thời học sinh mang theo trong balô, tôi bước nhẹ tênh vào cuộc chiến đầu đời.

Ngày đó Đồng Tháp Mười còn là đồng không mông quạnh, lau sậy ngút ngàn, dân cư thưa thớt, sống co cụm trên những gò đất cao giữa vùng đồng lầy nước nổi quanh năm. Người ở hậu phương lúc bấy giờ nhìn về Đồng Tháp Mười như là vùng đất bí hiểm với những huyền thoại Lúa Ma nuôi quân đánh giặc, về Tổng Đốc Binh Kiều, Thiên Hộ Vương thời chống Pháp qua những trận đánh lẫy lừng ở Gãy Cờ Đen, Gò Tháp mà chiến tích được tạc vào bia đá ở Tháp Mười Tầng còn lưu lại đến ngày nay.

Mùa xuân năm đó, đơn vị tôi đóng trên Gò Bắc Chiêng, có tên là Mộc Hoá, nằm sát biên giới Việt Nam-Campuchia, sau này là Tỉnh lỵ Kiến Tường. Đơn vị của tôi đã có những cuộc giao tranh đẫm máu vào những ngày giáp tết trên những địa danh Ấp Bắc, Kinh 12 và tuyến lửa Thông Bình, Cái Cái, Tân Thành. Dù vậy, mùa xuân vẫn có cánh én bay về trên trận địa và hoa sen Tháp Mười vẫn đua nở trong đầm dù bị quần thảo bởi những trận đánh ác liệt. Cứ mỗi độ xuân về, sông Vàm Cỏ lại mang về từng đàn tôm cá từ biển hồ Tông Lê Sáp, vượt vũ môn theo đám lục bình trôi về vùng Tam Giác Sắt, như nhắc nhở Bộ Tư Lệnh Tiền Phương Đồng Tháp Mười lập danh sách cho những người được về quê ăn Tết. 

Vì còn độc thân nên tên tôi được ưu tiên ghi vào Sổ Nhật Ký Hành Quân và ở lại đơn vị trong những ngày Tết. Dù không ai nghĩ có đánh nhau ngày đầu năm nhưng quân lệnh phải được tuân hành nghiêm chỉnh. Trước ba ngày Tết, tôi được lệnh lên chốt tiền tiêu, tăng cường cho cứ điểm, mang theo chiếc ba-lô với chút hành trang lương khô, cùng tấm ảnh của người em gái hậu phương, cũng là cơ duyên sau đó để tôi viết nên bài tình ca "Sắc Hoa Màu Nhớ".

Tiền đồn cuối năm, đêm 30 Tết, trời tối đen như mực, phút giao thừa lạnh lẽo hắt hiu, không bánh chưng xanh, không hương khói gia đình. Tôi ngồi trên tháp canh quan sát qua đêm tối, chỉ thấy những bóng tháp canh mờ nhạt bao quanh khu yếu điểm như những mái nhà tranh, chập chờn dưới đóm sáng hỏa châu mà mơ màng về mái ấm gia đình đoàn tụ lúc xuân sang. Thay cho lời chúc Tết là tiếng kẻng đánh cầm canh và tiếng hô mật khẩu lên phiên gác.

Vào đúng thời điểm giao thừa, ngọn đèn bão dưới chiến hào thắp sáng lên như đón chào năm mới thì cũng là lúc những tràng súng liên thanh nổ rền từ chốt tiền tiêu. Khi ấy vào buổi tinh mơ của trời đất giao hòa, vạn vật như hòa quyện vào trong tôi, có hồn thiêng của sông núi, có khí phách của tiền nhân. Tôi nghe tâm hồn nghệ sĩ của mình rộn lên những xúc cảm lạ thường, làm nảy lên những cung bậc đầu tiên của bài “Phiên Gác Đêm Xuân”:

“Đón giao thừa một phiên gác đêm
chào Xuân đến súng xa vang rền.
Xác hoa tàn rơi trên báng súng
ngỡ rằng pháo tung bay
ngờ đâu hoa lá rơi…”

Rồi mơ ước rất đời thường:
“Ngồi ngắm mấy nóc chòi canh
mơ rằng đây mái nhà tranh
mà ước chiếc bánh ngày xuân
cùng hương khói vương niềm thương…”

Bài “Phiên Gác Đêm Xuân” được ra đời trong hoàn cảnh như thế, cách đây nửa thế kỷ, đánh dấu một chuỗi sáng tác của tôi về đời lính như “Chiều Mưa Biên Giới”, “Mấy Dặm Sơn Khê”, “Sắc Hoa Màu Nhớ”, “Khúc Tình Ca Hàng Hàng Lớp Lớp”, “Xin Đừng Trách Anh”, “Lá Thư Người Lính Chiến”, “Anh Trước Tôi Sau”, “Lời Giã Biệt”… v.v. Sau ngày 30 tháng Tư năm 75, các bản nhạc này cùng chung số phận tan tác như cuộc đời chìm nổi của tôi.'...

... Sau tháng 4/1975, tôi đi học tập “cải tạo” 10 năm. Khi trở về nhà, tôi mang theo nhiều chứng bệnh trầm trọng, tinh thần và thể xác bị suy sụp. Suốt 30 năm qua, tôi không tham gia bất cứ hoạt động nào ở trong nước cũng như ngoài nước. Vào năm 2003, nhà nước Việt Nam có cho phép lưu hành 18 bài hát của tôi, gồm: “Hải Ngoại Thương Ca”, “Nhớ Một Chiều Xuân”, “Về Mái Nhà Xưa”, “Khi Đã Yêu”, “Đom Đóm”, “Thầm Kín”, “Vô Thường”, “Niềm Đau Dĩ Vãng”, “Tình Cố Hương”, “Cay Đắng Tình Đời”, “Tình Đầu Xót Xa”, “Khúc Xuân Ca”, “Kỷ Niệm Vẫn Xanh”, “Truông Mây”, “Bài Ca Hạnh Phúc”, “Bông Hồng Cài Áo”, “Trái Tim Việt Nam”, “Núi và Gió”.

Rất tiếc một số bài hát tâm đắc không được nhà nước cho phép. Tôi hy vọng rồi đây theo thời gian mọi việc sẽ tốt đẹp hơn. Đặc biệt trong lãnh vực văn hoá, văn nghệ, tôi nghiệm rằng những gì có giá trị nghệ thuật, dù bị vùi dập vì sự ganh tỵ hay hiểu lầm, sẽ có ngày được mang trả lại vị trí đích thực của nó. Tôi chỉ tiếc đời người ngắn ngủi mà tôi đã phí phạm quãng thời gian dài 30 năm. Thật lấy làm tiếc!
Hồi ký của NS. NGUYỄN VĂN ĐÔNG (nguồn: trang Mượn Dấu Thời Gian)

Di dời dân hay nhà máy


Dana Ý, Dana Úc nên đi hay người dân sống gần đó nên đi, đó là nội dung chính trong 2 buổi đối thoại giữa Lãnh đạo TP, doanh nghiệp và người dân.

2 nhà máy thép này được chính quyền trước đây cho phép xây dựng gần khu dân cư xã Hoà Liên, huyện Hoà Vang

Chính quyền thì không tính hết mức độ ô nhiễm, nhà đầu tư thì có lợi là làm...

Đến nay, 2 nhà thép này đã gây ô nhiễm tiếng ồn, bụi và nguồn nước... người dân bức xúc vây nhà máy yêu cầu ngừng sản xuất...

Sự việc buộc lãnh đạo TP phải đối thoại với người dân và doanh nghiệp. Người dân yêu cầu dời nhà máy, doanh nghiệp thì đề nghị dời dân...

Sự việc khiến lãnh đạo TP lúng túng. Dời dân thì áp lực ngân sách giải tỏa và TĐC, dời nhà máy thì gây tổn thất doanh nghiệp!

Dời dân hay dời nhà máy thì cũng phải chờ đến thứ hai lãnh đạo TP mới trả lời!?

Với tôi thì dời nhà máy ra khỏi TP đáng sống này😝

Vĩnh biệt Nhạc sĩ Nguyễn văn Đông!

Tôi nghĩ ông là một nhân cách đặc biệt giữa cuộc đời đầy “nhốn nháo” này. Ông không xuất hiện bất cứ nơi đâu, ở đâu giữa chốn nhân gian “huyên náo” này từ khi ông ra khỏi trại cải tạo. Dù ông đi lính VNCH tới cấp bậc Đại tá Chánh văn phòng tham mưu phó, Quân lực VNCH. Ông cũng không đi diện HO qua Mỹ, không dây vào bất cứ cuộc tranh cãi nào về âm nhạc, mặc dù nhạc ông để lại cho đời nhiều dư âm sang trọng.

Từ rất nhỏ, tôi đã nghe nhạc ông: Mấy dặm Sơn khê, Chiều mưa biên giới, Hải ngoại thương ca, Tình cố hương, Khúc Xuân ca... Hồi còn tuổi ấu thơ, hai mẹ con tôi đơn độc trong mái tranh nghèo ở quê cô đơn chiếc bóng để nghe nhạc ông. Tôi đã nghe văng vẳng: “Chiều mưa biên giới, anh đi về đâu. Sao còn đứng ngóng nơi giang đầu. Kìa rừng chiều âm u rét mướt, chờ người về vui trong giá buốt” hay “Lòng trần còn tơ vương khánh tướng, thì đường trần mưa bay gió cuốn, còn nhiều anh ơi” với giọng ngân mượt mà của ca sĩ gốc Huế: Hà Thanh.

Chiều mưa biên giới, bản nhạc để đời đó, và Mấy dặm sơn khê, lại bị cấm cùng với 15 bản nhạc khác, ngay từ thời ông Ngô đình Diệm vì nó buồn quá và, vì “lưng trời nhớ sắc mây pha hồng” được liên tưởng màu cờ của phía đối phương dù ông đang là cấp bậc đại tá của quân lực VNCH. Cuộc chiến tranh Việt nam, nó phức tạp ngay từ đầu qua số phận một bản nhạc của Nguyễn văn Đông.


Tôi và vợ tôi, nhiều lần muốn nhờ anh Phan Bá Chức dẫn đến thăm nhạc sĩ, vì lòng tôn trọng và ngưỡng mộ. Anh Chức lại cho biết NVĐ hiện giờ không muốn tiếp bất cứ ai. Ông có vợ là Nguyệt Thu và cùng vợ bán quán giò chả có tên Nhiên Hương trên đường Phạm văn Hai trong một căn nhà nhỏ xíu được tạo dựng từ đầu những năm 70. Tôi đành nuối tiếc là không được gặp ông, cho đến giờ này, khi nghe tin ông đi về thế giới bên kia.


Đời sống thế tục và đời sống âm nhạc của ông đều đáng ngưỡng mộ. Vĩnh biệt ông, người nhạc sĩ tài hoa đã tự trói mình trong “cô đơn chiếc bóng” đến cuối cuộc đời mình.


(Nguyễn Công Khế)

23.11.17

Đã nổi lên những dấu hiệu cảnh báo!

Bắc Kinh đang theo đuổi chính sách ngoại giao dân tộc vị chủng? (Is Beijing Adopting an Ethnonationalist Foreign Policy?)

Đã nổi lên những dấu hiệu cảnh báo!

Harry Krejsa và Anthony Cho (Foreign Affairs, 23/10/2017)
Người dịch: Huỳnh Hoa

Khắp thế giới, các chính phủ từ Ba Lan tới Miến Điện đang khơi dậy tình cảm dân tộc vị chủng (ethnonationalist) để củng cố sự ủng hộ cho những chương trình chính trị mà nếu không sẽ gây chia rẽ. Ở các nước nhỏ hơn và thuần chủng hơn, xu hướng này chủ yếu biểu lộ ở sự chuyển dịch chính sách đối nội theo kiểu hướng nội, chẳng hạn như chính sách hạn chế nhập cư và bảo hộ kinh tế của Hungary dưới quyền tổng thống Viktor Orban. Còn ở các nước lớn, hùng mạnh hơn về kinh tế, tình cảm dân tộc vị chủng có khuynh hướng tạo điều kiện cho chính sách ngoại giao hiếu chiến.
Lịch sử có rất nhiều những hậu quả kinh khủng về chủ nghĩa dân tộc vị chủng từ các nước lớn lan ra sân khấu thế giới – và đã có những dấu hiệu cho thấy đất nước đông dân nhất thế giới, Trung Quốc, có thể là ví dụ mới nhất.
Đối với các nước lớn, lượng kiều bào đông đúc hoặc có vị thế quan trọng ở nước ngoài có thể là một mục tiêu đầy cám dỗ mà chính phủ phải thu hút nhân danh chính sách ngoại giao dân tộc vị chủng. Các nhà nước ràng buộc tính chính danh của mình vào một căn cước sắc tộc (ethnic identity) thường có những nỗ lực đặc biệt để tái khẳng định cái căn cước đó trong cộng đồng những người cùng sắc tộc ở nước ngoài, bành trướng quyền lực của nhà nước và khi làm như vậy họ vượt qua các biên giới địa lý. Có thể vì vậy mà các nhà nước này đôi khi theo đuổi các chính sách ngoại giao can thiệp để “bảo vệ” kiều dân của họ ở nước ngoài.
Nước Đức giữa hai thế chiến cung cấp một ví dụ có sức thuyết phục nhất cho chính sách dân tộc vị chủng và can thiệp này. Adolf Hitler đã tích cực thúc đẩy căn cước chủng tộc Đức ra ngoài biên giới của Đế chế thứ Ba (Third Reich) và sử dụng tình trạng của người sắc tộc Đức như một cái cớ để xâm lược các nước láng giềng. Gần đây hơn, tổng thống Nga Vladimir Putin lấy việc bảo vệ người sắc tộc Nga trước một chính phủ bài Nga ở Kiev, Ukraine làm cái cớ để xâm lăng Crimea năm 2014; ông ta tuyên bố khi sáp nhập bán đảo này là ông ta “không thể bỏ mặc Crimea và cư dân của nó trong đau khổ”.
Mặc dù cả hai trường hợp này đều có những tác động bên ngoài riêng, hàm ý quan trọng của chúng là các thế lực theo chủ nghĩa dân tộc vị chủng cũng thường là những thế lực bành trướng bởi vì họ, hoặc nhiệt thành muốn bảo vệ sắc tộc của mình, hoặc muốn dùng nó làm một màn che tiện lợi cho chính sách can thiệp – hoặc kết hợp cả hai.
Thu hút kiều bào
Giờ đây Bắc Kinh đang bộc lộ ra những dấu hiệu cảnh báo về sự nổi lên của một thế lực theo chủ nghĩa dân tộc vị chủng; họ đang tích cực thu hút một khối lượng Hoa kiều khổng lồ, ở tận những nơi xa xôi, để thúc đẩy các mục tiêu chính sách ngoại giao của Trung Quốc.
Nhờ những cuộc di dân trong lịch sử và những cuộc định cư kinh tế gần đây hơn diễn ra cùng các dự án đầu tư dọc theo Sáng kiến Nhất lộ Nhất đới (Một vành đai, một con đường), lượng người sắc tộc Hoa (Hoa kiều) sinh sống bên ngoài lãnh thổ Trung Quốc và Đài Loan giờ đây đã lên tới gần 50 triệu người, lớn hơn dân số của Úc, Canada hoặc Kenya.
Hơn thế nữa, các cộng đồng Hoa kiều tập trung ở các quốc gia có tầm quan trọng về chiến lược và các nền kinh tế đang nổi lên chủ chốt, bao gồm 32 triệu người ở Đông Nam Á, 1 triệu người ở Úc, 400.000 người ở Pakistan, hơn 300.000 người ở Nam Phi và 250.000 người ở Brazil. Đại đa số người Hoa ở nước ngoài không còn giữ quốc tịch Trung Quốc, nhưng dù vậy đảng Cộng sản ở Bắc Kinh vẫn ban hành những chính sách lôi cuốn họ và củng cố một căn cước sắc tộc chung nhằm gắn bó lợi ích của Hoa kiều với lợi ích của chính họ.
Trước tiên, Bắc Kinh cố gắng tạo ra mối liên kết gần gũi hơn giữa Hoa kiều và nền kinh tế Trung Quốc. Bắc Kinh đã lèo lái dòng vốn đầu tư ra nước ngoài của mình thông qua các cộng đồng Hoa kiều này, đôi khi với mức độ cao không ngờ. Mối quan hệ này thấy rõ nhất ở Đông Nam Á, đặc biệt là ở Indonesia, nơi người Indonesia gốc Hoa chỉ chiếm từ hai đến ba phần trăm dân số nhưng tham gia tới 90 phần trăm hoạt động thương mại giữa hai nước. Mô hình ràng buộc này, làm giàu cho cả các nhà đầu tư của Trung Quốc lục địa lẫn những kẻ tiếp tay trong cộng đồng Hoa kiều bản địa, đang lan tràn khi Bắc Kinh theo đuổi những chính sách công khai nâng cao ảnh hưởng và hình ảnh của cộng đồng Hoa kiều ở các quốc gia mà họ sinh sống. Khi Bắc Kinh tiếp tục cải cách kinh tế, họ nói rõ với các cộng đồng Hoa kiều rằng, Hoa kiều cũng có chỗ đứng trong “Giấc mộng Trung Hoa” của ông Tập Cận Bình.
Hai là, Bắc Kinh đang củng cố các quan hệ về văn hóa với cộng đồng người Hoa hải ngoại thông qua một cơ quan quản lý Hoa kiều chính thức có tên là Cục Hoa kiều đặt dưới quyền Quốc vụ viện, tức hội đồng nhà nước Trung Quốc. Cơ quan này đã lấy lòng người Hoa hải ngoại bằng các chuyến du lịch về quê do nhà nước tài trợ để tham dự các trại hè thanh niên nhằm tìm cách đưa vào đầu óc giới trẻ phiên bản di sản văn hóa và căn cước sắc tộc Trung Quốc do Bắc Kinh đạo diễn. Cơ quan này cũng đã bắt đầu nới lỏng các hạn chế trong việc Hoa kiều di dân muốn nhận thẻ thường trú nhân ở Trung Quốc.
Hơn thế nữa, có một chiến dịch thận trọng từ những cấp cao nhất của chính phủ Trung Quốc kêu gọi các nhà khoa học, các học giả Trung Quốc trở về, khơi dậy lòng ái quốc của họ (cũng như đưa ra những phần thưởng hồi hương rất lớn). Chiến dịch tái biến đổi văn hóa trên quy mô toàn cầu này nhằm củng cố bản sắc Trung Quốc – tất nhiên là theo điều kiện của Bắc Kinh.
Cuối cùng và gây nhiều tranh cãi nhất là việc Bắc Kinh có vẻ như rất quan tâm tới chuyện vận động chính trị của cộng đồng Hoa kiều. Các cơ quan tình báo New Zealand gần đây đã tiến hành điều tra ông Dương Kiện (Yang Jian), một ứng cử viên quốc hội New Zealand có lập trường thân Bắc Kinh rõ rệt – vì những quan hệ mờ ám của ông này với quân đội Trung Quốc, tình báo Trung Quốc cũng như vì những khoản đóng góp cho đảng chính trị của ông ta từ các doanh nghiệp Trung Quốc có động cơ không rõ ràng như khoản quà tặng trị giá 104.000 đô la Mỹ từ công ty Inner Mongolia Rider Horse Industry Ltd. Đã có hàng loạt những trường hợp tương tự ở Úc.
Và Vụ Công tác Mặt trận Thống nhất – một cơ quan thuộc ủy ban trung ương đầy quyền năng của đảng Cộng sản Trung Quốc, đã từng nói bóng gió về việc tập hợp một mạng lưới các mối liên lạc của người Hoa ở nước ngoài. Mặc dù chưa có kết luận cuối cùng về nhiều trường hợp như vậy, nhưng chừng nào đảng Cộng sản ở Bắc Kinh còn nỗ lực định nghĩa căn cước sắc tộc Trung Hoa theo quan điểm của riêng mình và huy động các cộng đồng Hoa kiều tập hợp quanh cái căn cước do nhà nước vạch ra ấy và lợi dụng nó cho chính lợi ích của nhà nước thì những lời cáo buộc về mưu đồ chính trị còn gia tăng theo thời gian.
Một chiến lược ràng buộc kiều bào thật chặt chẽ có thể cung cấp lý do cho một chính sách ngoại giao hung hăng hơn của Trung Quốc. Bắc Kinh có thể biện minh cho việc từ bỏ chính sách không can thiệp đã có từ lâu của nước này nếu như người sắc tộc Trung Hoa ở ngoài biên giới bị đe dọa. Nếu như chuyện một người Mỹ gốc Hoa bị hãng hàng không United Airlines ngược đãi đã thu hút sự chú ý rất lớn trên báo chí Trung Quốc do nhà nước điều hành thì không khó hình dung bạo lực chống lại người sắc tộc Trung Quốc – giả dụ như ở một quốc gia “Nhất đới Nhất lộ”, nơi có nhiều người sắc tộc Trung Quốc làm công nhân xây dựng đường sá – sẽ biện minh cho một phản ứng trực tiếp hơn từ Bắc Kinh. Các nước như Sri Lanka, nơi đầu tư của Trung Quốc đã gặp phải sự phản kháng đôi khi bạo lực, có khả năng phù hợp với dự báo tồi tệ đó.
Tệ hơn nữa, khi một số thành viên của cộng đồng Hoa kiều tự thấy mình phụ thuộc vào đà thăng trầm của chính Trung Quốc, thì Bắc Kinh có thể vận động họ ủng hộ (hoặc biểu tình ủng hộ) các chính sách thân Bắc Kinh. Kiểu huy động này đã thường xuyên xảy ra nhằm chống lại các nhân vật như đức Đạt lai Lạt ma ở những nơi mà Bắc Kinh không cần động ngón tay cũng có thể gây đau đầu cho nước chủ nhà nào đón tiếp ông.
Ngay cả khi sự ràng buộc cộng đồng Hoa kiều được hiểu một cách thiện ý hơn cũng cho thấy rằng có vẻ như Bắc Kinh đang đi tới chỗ rắc rối. Sự gia tăng lợi ích của Trung Quốc ở nước ngoài – và cái phương cách áp chế mà Bắc Kinh theo đuổi nó – đã đồng hành với tình cảm chống Trung Quốc ngày càng tăng ở khắp nơi trên thế giới, minh chứng là những vụ xung đột ở Zambia và thái độ thù địch ở Sri Lanka. Bằng cách khuấy động thủ đoạn chính trị căn cước (identity politics) trên trường quốc tế, Bắc Kinh gặp rủi ro kích thích sâu hơn nữa những mối bất bình sắc tộc, mà đến lượt nó có thể đặt những khoản đầu tư hải ngoại ngày càng lớn của Trung Quốc vào vòng nguy hiểm và đặt cộng đồng Hoa kiều vào cuộc đối kháng sắc tộc. Điều đó đã đúng ở Malaysia, nơi nhiều người gốc Hoa đang mong Bắc Kinh chào đón họ quay về, có tiềm năng đặt ra một tình thế khó xử về di dân. Những người khác có thể đối phó với phản ứng bài Hoa bằng cách từ chối đầu tư hoặc cam kết từ Bắc Kinh và tìm cách biểu lộ công khai hơn lòng trung thành với đất nước họ đang sinh sống. Australia có thể là một phép thử sớm khi chính phủ nước này xem xét luật lệ mới, bao quát hơn, về hoạt động do thám và tài trợ tranh cử giữa lúc có những mối lo ngại về ảnh hưởng ngày càng tăng của Bắc Kinh.
Chống lại cuộc tấn công
Mặc dù mọi quốc gia đều có thể gặp khó khăn trong việc đương đầu với những thách thức có nguồn gốc từ nhà nước này, họ vẫn có những lựa chọn để tự phòng vệ, chống lại cuộc tấn công của chủ nghĩa dân tộc vị chủng. Những nỗ lực hòa nhập được suy nghĩ thấu đáo là biện pháp then chốt: một cộng đồng mà bản sắc được chấp nhận và tôn vinh ở địa phương sẽ ít có khả năng hướng về Bắc Kinh để tìm ý thức về vị trí hơn là một nhóm Hoa kiều bị cô lập và khinh rẻ. Hơn thế nữa, những yêu cầu mạnh mẽ hơn về tính minh bạch đối với các khoản tài trợ từ nước ngoài, cả với doanh nghiệp và ảnh hưởng chính trị, sẽ không chỉ “rọi đèn pha” vào sự can thiệp của Bắc Kinh mà còn có thể dập tắt những lời đồn đoán gây chia rẽ về lòng trung thành của các nhóm kiều bào có nguy cơ trở thành sự thật.
Thật vậy, chiến lược huy động chủ nghĩa dân tộc vị chủng tiềm ẩn nhiều rủi ro nghiêm trọng cho chính cái cộng đồng mà nó muốn tìm cách tăng sức mạnh. Nếu như Bắc Kinh cố gắng lợi dụng cộng đồng Hoa kiều để tăng sức mạnh cho một chính sách ngoại giao mang tính can thiệp và hung hăng hơn thì cộng đồng người Hoa ở hải ngoại nằm trong số những thành phần đầu tiên bị thiệt hại. Nỗ lực của Bắc Kinh sử dụng sự hợp nhất về sắc tộc để biện minh cho những hành động xâm lấn ở nước ngoài có thể kích hoạt thành kiến bài Hoa chống lại những cộng đồng Hoa kiều đã có gốc rễ sâu xa – và làm cho những người mà Trung Quốc tìm cách lôi kéo trở nên bị xa lánh và cô lập.
Trung Quốc có một di sản lâu dài và nhiều tầng nấc: dân tộc, truyền thống và văn hóa Trung Hoa được tôn trọng trên khắp thế giới. Dù sao, chính dân tộc Trung Hoa mới là trường tồn trong khi các hoàng đế, vương triều và các chính phủ đều chỉ đến và đi mà thôi.
Nếu Bắc Kinh thành công trong việc khơi dậy chủ nghĩa dân tộc vị chủng cho những mục tiêu của họ và biến nhân dân thành vật cầm cố thì tất cả chúng ta sẽ khốn khó hơn trước.

21.9.17

Chuyện Côn Đảo

Chuyện Côn đảo

ÔNG QUẢN LÝ HỢP TÁC XÃ TIÊU THỤ VÀ
NHỮNG “THÂN CHỦ” QUEN THUỘC CỦA QUỸ KÝ THÁC CAN NHÂN
Trong thời gian chỉ hơn một năm rưởi ở Côn đảo, ngoài nhiệm vụ chính thức là nhân vật số 2 tại Cơ sở HC Côn Sơn và bị ông Lê Công Chất, Thứ trưởng bộ Nội vụ, khoác cho thêm vai trò người cố vấn hành chánh, tài chánh cho ông Quản đốc Trung tâm Cải huấn (cũng do ông chúa đảo kiêm nhiệm), tôi còn phải kiêm nhiệm thêm hai nhiệm vụ khác nữa, là Chủ tịch Ban quản trị Hợp tác xã Tiêu thụ và Quản lý kế toán “Quỹ Ký thác can nhân”.

* Xin nói trước về Hợp tác xã Tiêu thụ Côn Sơn. Như mọi hòn đảo khác, Côn đảo là một khu vực “chó ăn đá, gà ăn muối”, địa hình chủ yếu là đồi núi, đất khả canh chỉ có một thẻo nhỏ, không trồng lúa được, chỉ trồng rau muống. Chính quyền và ban quản lý trại giam đã tận dụng những vạt đất canh tác được trên đồi núi để lập nên Sở Rẩy, ngày ngày các tù phạm được đưa lên đó chăm sóc. Tất nhiên hậu quả thấy rõ của tình trạng này là cư dân trên đảo không có đủ rau quả và thức ăn để ăn. Từ lâu, trước khi tôi ra đảo, chính quyền đã thiết lập HTX Tiêu thụ, mua thực phẩm từ đất liền ra bán lại cho những thành phần sống trên đảo, kể cả những phạm nhân được sử dụng làm công nhân văn phòng, ở trại riêng bên ngoài (Trại lá) như tôi đã kể ở trên. Người thầu cung cấp thực phẩm cho HTX là ông Huỳnh Văn Phàn, nhà ở Bà Chiểu, Gia Định, trông bề ngoài giống một nông dân hơn là một nhà thầu. Hàng tháng (hay 2-3 tháng), ông thuê một chuyến tàu chở ra Côn đảo những thực phẩm cần thiết, theo yêu cầu của Ban Quản lý HTX Tiêu thụ. HTX là một dãy nhà dài gần đối diện với Cơ sở HC Côn sơn, người làm việc tại đó phần lớn là con em quân nhân, công chức trên đảo và tù. Căn nhà đầu dãy, ở góc đường, là nơi ở của anh quản lý HTX, Nguyễn Văn Sơn, một người đàn ông trung niên hơi thấp, nước da trắng, hơi xanh một chút. Khi tôi mới chân ướt chân ráo ra đảo thì nghe đâu anh Sơn đã cư ngụ trên đảo 15 năm rồi. 15 năm cu ky một mình, không thân nhân vào ra thăm viếng, cũng chẳng nghe nói anh về Sài Gòn bao giờ. Anh lại không thuộc vào thành phần nào trong hai thành phần chủ yếu trên đảo, một là quân nhân, công chức (kể cả giám thị trại giam) và gia đình họ; hai là tù. Một đôi lần, tôi nghe đồn anh Sơn là người của “phía bên kia” cài cắm trên đảo, do lối sống đơn chiếc của anh trong nhiều năm, và cũng do cung cách ứng xử nhẹ nhàng, thâm trầm của anh. Tôi không quan tâm đến điều này, phần vì đây chẳng thuộc nhiệm vụ của tôi, phần vì tôi nghĩ là tôi nghe được thì ắt hẳn ông chúa đảo và bộ phận an ninh, cảnh sát cũng nghe được.

Chỗ ở của anh Sơn tuy không rộng, nhưng do anh sống độc thân nên thường trở thành chỗ gặp gỡ, nói chuyện khào của các trưởng ty sở, sĩ quan trên đảo. Tôi cũng chỉ đến đó một đôi lần. Bộ máy HTXTT chạy đều từ trước khi tôi ra đảo nên hầu hết việc điều hành, anh Quản lý Nguyễn Văn Sơn đảm đương cả. Thường thì mỗi cuối tháng, anh Sơn lên CSHC mời tôi đích thân xuống HTX xem mấy cuốn sổ nhật ký kế toán, to và rất nặng nề, để ký duyệt vào đó. Những khoảng thời gian khác trên đảo, tôi và anh Sơn ít gặp nhau, cho đến ngày tôi rời đảo. 

Tháng 4.1982, tôi “trở về đời”, không lâu sau, gặp lại 1-2 người từng ở Côn đảo như tôi, được biết anh Nguyễn Văn Sơn và đại úy Dậu, trưởng ban 4 Bộ chỉ huy Đặc khu Côn Sơn trước 30.4.1975, là hai trong số những người tiếp quản đảo sau 30.4 và thiết lập “chính quyền cách mạng” trên đảo. Từ ấy đến nay, tôi không biết thêm tin tức về anh Sơn.

* Những năm trước 1975, tù nhân tại Côn đảo, kể cả tù chống đối bị giam riêng, được phép nhận tiền do thân nhân từ đất liền gửi ra. Số tiền gửi ra đảo dưới hình thức bưu phiếu (mandat-poste, người Việt thường gọi nôm na là “măng-đa”), vào khoảng từ 2.000đ đến 4.000đ. Song có lẽ do từng xảy ra (hoặc để tránh) trường hợp phạm nhân có nhiều tiền một lúc, dẫn đến việc họ nhờ giám thị hay tù trật tự mua rượu thịt vào nhậu nhẹt trong tù, hoặc đánh bạc, hoặc mua chuộc giám thị, qui định của Trung tâm cải huấn Côn Sơn là chỉ cho họ được phát mỗi tuần lễ 500đ, nhận như thế cho đến khi hết số tiền họ có thì thôi. Để thực hiện qui định này, một “Quỹ ký thác can nhân” (KTCN) được chính quyền trên đảo lập ra để nhận tiền của tù nhân và phát dần ra cho họ, chức trách Quản lý kế toán quỹ đó do tôi kiêm nhiệm. Theo thủ tục, mỗi khi Ty Bưu điện Côn Sơn nhận được bưu phiếu đề tên người nhận, tên trại giam giữ, nơi đây sẽ thực hiện hai động tác chính: một là thông báo tên người thụ hưởng cho ban quản lý trại nơi họ bị giam giữ để nơi đây thông báo trực tiếp số tiền họ có trong tài khoản; hai là sung đương số tiền đó vào quỹ KTCN với đầy đủ tên người nhận, tên trại giam. Hàng tuần, mỗi trại giam sẽ căn cứ vào yêu cầu của các phạm nhân có tiền trong quỹ KTCN, lập danh sách những người xin nhận tiền (500 đ), kèm chữ ký của mỗi người, gửi đến ban điều hành quỹ để lập thủ tục trả tiền cho họ. Tiền do giám thị trưởng trại nhận chung cho toàn bộ phạm nhân trong trại và phát lại cho mỗi người. Trong những tháng đầu tiên, tôi thực hiện việc trả tiền cho phạm nhân với sự giúp sức của hai người tù chính trị làm việc trực tiếp với tôi. Tôi vẫn còn nhớ một người tên Nguyễn Xuân An, một người tên Nguyễn Duy; nghe đâu họ là sinh viên, bị bắt và đày ra Côn Sơn do những hoạt động chống chính quyền trong thời kỳ nhiều biến động chính trị tại miền Trung, đặc biệt tại Quảng Nam-Đà Nẵng vào nửa sau thập niên 1960. Cả hai anh An và Duy trạc tuổi tôi lúc bấy giờ. An mặc bộ bà ba màu xanh da trời đã ngã gần hết sang màu trắng, còn Duy thì bộ bà ba cũng gần trôi hết màu đen. Chân họ mang guốc vông, trông họ vẫn tươm tất, không nhếch nhác như nhiều người tù khác. Họ hiền lành, hết lòng với công việc và không bao giờ nói với tôi về chuyện chính trị. Được vài tháng, do bận nhiều việc, tôi xin với ông chúa đảo Cao Minh Tiếp cử cho một giám thị có học vấn tương đối để trực tiếp phụ giúp tôi điều hành quỹ KTCN. Người đó là giám thị Lê Văn Hùng, trưởng kho 2 lương thực, thực phẩm của TTCH. Ông có nét chữ viết đẹp (có lẽ vì thế mà được giao chức thủ kho), ăn chay trường, đầu cạo trọc, người trông khá hiền lương. Từ ngày ông giúp tôi điều hành quỹ KTCN, tôi rảnh rang lo việc khác, chỉ giúp ông giải quyết những khó khăn bất chợt về thủ tục, đặc biệt trong việc quyết định cho một số tù nhân “có máu mặt”, khả tín, nhận lãnh trọn số tiền họ có. Chính trong sự vụ này mà tôi có dịp tiếp xúc với một số người tù “đặc biệt”, đến gặp tôi để xin nhận lãnh một lần trọn số tiền do thân nhân họ gửi ra.

* Người đầu tiên mà tôi muốn nhắc đến là y sĩ Lê Túy, một cán bộ MTGP, bị bắt vào năm 1968 khi lẻn từ chiến khu về thăm nhà tại trung tâm thị xã Nha Trang. Anh Túy ra làm tại Ty Y tế (kiêm bệnh viện) Côn Sơn, mọi người lịch sự gọi anh là bác sĩ.Vả lại, vào thời đó, hầu như không có sự phân biệt giữa y sĩ và bác sĩ, hội đoàn của giới bác sĩ vẫn có tên là “Y sĩ đoàn”; còn y sĩ ngày nay thì vào thời đó là Cán sự Y tế, Cán sự Điều dưỡng, vào hàng công chức hạng B. Anh Túy được biết đến nhiều với kỹ thuật trị bệnh đau dạ dày khá kỳ lạ: anh chỉ cần dùng dao bén rạch một lằn nhỏ trên lòng bàn tay người bệnh, lấy ra một tí mỡ là người đó khỏi bệnh dạ dày! Anh là “thân chủ” của quỹ KTCN được tôi ưu ái nhất, cứ mỗi khi được thông báo về số tiền do thân nhân gửi ra, không đợi xong các thủ tục chuyển tiền vào quỹ KTCN, anh chạy đến tôi, nở nụ cười “cầu tài”, xin tôi ứng trước cho trọn số tiền đó. Tôi mến cái phong cách vui vẻ, cởi mở, sự đứng đắn của anh nên lần nào cũng “đặc cách” thỏa mãn yêu cầu của anh. Bù lại, anh cũng giúp được tôi một việc mà tôi sẽ kể trong bài sau.

Một bác sĩ tù chính trị khác cùng làm chung với anh Lê Túy tại Ty Y Tế là anh Triết (Nguyễn Đình Triết?). Hình như anh bị bắt trong những vụ biến động về chính trị tại Quảng Nam-Đà Nẵng những năm cuối thập niên 1960, trong đó có vụ biến động nổi tiếng liên quan đến bác sĩ Mẫn và đại tá Đàm Quang Yêu. Nghe đâu lúc đầu anh không chịu ra hợp tác với chính quyền trên đảo, nhưng về sau, anh nghe theo lời khuyên của một số người là nên ra để có điều kiện chăm sóc sức khỏe các tù chính trị một cách hiệu quả hơn. Anh không là “thân chủ” của quỹ KTCN, có thể anh nhận được tiền từ một nguồn khác, qua nhân viên y tế trên đảo chẳng hạn. Tôi thường gặp anh Triết tại nhà bác sĩ Nguyễn Đình Khương, Trưởng ty Y tế Côn Sơn, một trong những người bạn thân thiết của tôi trên đảo. Có lần anh Triết ghé nhà tôi chơi, trong lúc tôi đang chơi bóng bàn với các anh em tù và công chức. Anh được giải hồi (chữ thời đó dùng để chỉ sự trả tự do) khá sớm, trước khi tôi rời đảo.

Ở một bài trước, tôi có nhắc đến vụ án Đại úy Trần Ngọc Hiền thuộc MTGP, bị bắt tại Sài Gòn khi từ chiến khu về liên lạc với sứ quán Mỹ. Còn nhớ khi vụ án diễn ra, báo chí lúc bấy giờ có kể lại chuyện em ruột ông Hiền là Trung tá VNCH Trần Ngọc Châu, khi đang làmTỉnh trưởng Kiến Hòa (Bến Tre), từng dùng xe jeep chở ông Hiền từ dinh Tỉnh trưởng xuống cầu bắc Mỹ Tho. Ở Côn đảo, ông Hiền cũng thường đến xin tôi cho lãnh trọn số tiền do thân nhân gửi ra. Tất nhiên là tôi không từ chối. Tôi vốn là dân học luật và kinh tế-tài chánh, nghe đồn ông Hiền là tiến sĩ kinh tế học ở Liên Xô nên cũng tò mò muốn biết kinh tế XHCN như thế nào. Vì vậy, tôi có đôi lần lưu ông Hiền lại văn phòng để trao đổi về các vấn đề kinh tế. Có hôm tôi lịch sự mời ông khi rảnh rang thì ghé nhà tôi chơi. Một buổi sáng chủ nhật, ông Hiền đến thăm tôi tại nhà. Khác với ông Nguyễn Xuân Hòe, ngồi chưa ấm chỗ, ông Hiền đã thuyết cho tôi nghe về sự ưu việt của CNXH, về những âm mưu của “đế quốc Mỹ”, về những điều mà một cán bộ tuyên giáo vẫn thường nhai đi nhai lại. Buổi đàm luận duy nhất đó sớm chấm dứt, về sau, tôi không có dịp nói chuyện với ông Hiền nữa, ngoại trừ những lúc chấp thuận trả trọn số tiền ông nhận được.
Những người ở độ tuổi 60-70 trở lên, từng sống ở Sài Gòn và miền Nam sau Tết Mậu Thân 1968, chắc sẽ nhớ rõ vụ án “phở Bình” nổi tiếng, được báo chí thời đó khai thác triệt để. Theo cáo trạng lúc bấy giờ, ông chủ quán phở này đã dùng địa điểm kinh doanh của mình làm nơi chứa chấp các cán bộ cao cấp của MTGPMN. Thời đó, tôi sống xa Sài Gòn nên không quan tâm lắm đến vụ án. Nhưng tại Côn đảo, tôi lại gặp nhân vật chính của vụ án này là chủ quán phở Bình, ông Ngô Toại.

Ông Ngô Toại là người gốc Hoa, cao to, nước da trắng hồng, khi đến gặp tôi để xin lãnh trọn số tiền do người nhà gửi ra, ông thường mặc chiếc quần lụa đen thẳng thớm và chiếc áo sơ mi trắng, không thể nào trắng hơn. Tôi tưởng tượng nếu tôi và ông Ngô Toại đứng cạnh nhau lúc đó, trước mắt một người chưa biết gì về chúng tôi, thì không khéo người đó sẽ đoán tôi là tù, chứ chẳng phải ông Ngô Toại. Song, đó cũng chưa phải là điều đáng nói. Điều đáng nói, gây cho bản thân tôi không ít ngạc nhiên, đó là một người ít nhất là “thân Cộng” như ông Ngô Toại lại được chính ông chúa đảo Cao Minh Tiếp sử dụng làm người quản gia kiêm đầu bếp chính của mình! Tôi tưởng tượng chỉ cần một cái búng tay của ông Toại lên đĩa thức ăn thì Trung tá Tiếp đủ lăn quay ra rồi. Dinh chúa đảo cũng là nơi đón tiếp, chiêu đãi nhiều phái đoàn trung ương cấp Phó thủ tướng, Bộ trưởng, ra du hí nhiều hơn là thị sát, nếu ông Toại lãnh nhiệm vụ nào đó của “phía bên kia”, thì hậu quả còn ghê gớm đến đâu. Nhưng thực tế cho thấy trong một thời gian dài, ông Ngô Toại vẫn là quản gia của chúa đảo, và ông Tiếp vẫn còn sống nhăn răng cho đến ngày rời đảo, thăng quan tiến chức, lên Đại tá và làm Giám đốc Nha Cải Huấn, quản lý toàn bộ các trại giam ở miền Nam. Giờ đây, chỉ cần gõ 2 chữ “phở Bình” vào ô search Google, các bạn có thể đọc thấy một số bài viết ghi lại những “thành tích phi thường” của ông chủ quán Phở Bình Ngô Toại, giống như bạn đã xem về ông đại úy Phạm Ngọc Thảo tại phủ Tổng thống Đệ nhất Cộng hòa hay ông “cố vấn” Vũ Ngọc Nhạ. 

Nhắc đến chuyện này, tôi còn nhớ 2 kỷ niệm với ông Cao MinhTiếp. Một là khi vừa có lệnh chuyển từ Côn đảo về tỉnh Bình Dương, tôi ghé lại Nha Cải Huấn thăm ông, khi đó ông đã lên Đại tá. Ông mừng lắm, chúng tôi ngồi nói chuyện với nhau cả buổi, dù ông lúc nào cũng rất bận rộn. Một lần khác, ông lên thị sát Trung tâm cải huấn Bình Dương, địa phương nơi tôi đang làm việc. Tôi không hay biết gì, ông cho xe chạy sang Tòa Hành chánh tỉnh đón tôi qua TTCH gặp ông, tay bắt mặt mừng, ngồi hàn huyên với nhau gần cả buổi chiều… Khoảng năm 1976, khi đang ở trại cải tạo Long Thành, tôi tình cờ đọc một bài báo viết rằng trong số những sĩ quan VNCH mới di tản sang Mỹ, có hai người sớm ổn định cuộc sống và tạm gọi là thành đạt, một là Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ, và hai là Đại tá Cao Minh Tiếp, riêng ông Tiếp có một trang trại ở bang California. Nếu đúng vậy thì mừng cho ông.

Về đất liền làm việc một thời gian, thỉnh thoảng tôi vẫn nhớ đến những người từng cộng tác với tôi tại Quỹ KTCN, đến hai anh Nguyễn Xuân An và Nguyễn Duy, cùng những anh em tù khác mà trong những ngày sắp rời đảo, tôi quá bận bịu đến nỗi không nhớ mà từ biệt họ. Riêng với ông giám thị Lê Văn Hùng, khoảng năm 1974, ngày nọ đọc Công báo VNCH, tôi phát hiện ông đã được chuyển về TTCH Vĩnh Bình (Trà Vinh). Tôi vội vàng viết thư thăm ông, nhận được thư, ông mừng lắm, viết cho tôi một lá thư dài.
Nhân đây, cũng xin kể ra một “nghịch lý” khá đặc biệt tại Côn đảo: trong khi đây là nơi đày ải công chức phạm kỷ luật tại đất liền hay chính quyền trung ương phải kêu gọi người tình nguyện ra phục vụ, thì Côn đảo lại là “miền đất hứa” của giới giám thị cải huấn. Phần lớn họ là công chức hạng C, ngang ngạch tùy phái bên phía hành chánh (chạy công văn, giấy tờ), lương thấp, nên ngoài những quyền lợi được qui định chung với các thành phần công chức khác phục vụ tại vùng nước độc như thâm niên công vụ được tính 150% (một năm thâm niên được tính một năm rưởi), hàng tháng mỗi giám thị được trợ cấp khẩu phần ăn 21 kg gạo và cá khô, cá mắm theo tiêu chuẩn như của người tù. Khoản khẩu phần bổ sung này giúp họ tiết kiệm được một số tiền để bù đắp những khoản chi cần thiết khác. Nhiều gia đình làm giám thị cả 3-4 thế hệ, nhiều người trong cả đời mình, chưa từng đặt chân lên đất liền một lần. Vì thế, với một công chức ngạch giám thị cải huấn, có khi việc thuyên chuyển về đất liền lại không phải là niềm vui đối với họ.Tôi viết thư thăm hỏi, an ủi ông Lê Văn Hùng là vì thế.

Những bài đầu tiên viết về những gì mắt thấy tai nghe tại Côn đảo đã tạo điều kiện cho người viết có thêm mấy người bạn FB từng sống tại hòn đảo này. Một người bạn mới của tôi là cô Minh Nguyet Phan từng làm ở Phòng Viễn thông trong những năm 1970 -1972; đặc biệt hơn, thân phụ cô, cụ Phan Thúc D., và chị ruột cô là Phan Minh Ch., từng làm việc trực tiếp với tôi tại Cơ sở HC Côn Sơn. Dù công việc của Nguyệt bó hẹp ở Phòng Viễn thông, song do cô được sinh ra và lớn lên tại Côn đảo, nên hi vọng rằng – trong một mức độ nào đó – cô có thể “thẩm định” tính chính xác về những gì tôi đã kể về sự kiện và con người ở Côn đảo. Ngoài ra, một người bạn khác là Nguyễn Thanh Vân đã làm việc tại Côn đảo sau 30.4.1975, nay đã về hưu, tuy đọc thấy những gì tôi viết có thể không giống với những gì bạn đã học, đã biết, nhưng với tinh thần học hỏi một cách khách quan, bạn cũng hi vọng những điều tôi viết sẽ giúp bạn bổ sung vào kho kiến thức về Côn đảo đã thu thập được. Đó cũng là chút động lực giúp người viết tự tin hơn vào sự đón nhận và tin cậy của các bạn yêu sử.
Lê Nguyễn
17.9.2017

14.9.17

TAI HỌA TỪ VỤ NĂM CAM ĐẾN VỤ PMU18…



Vụ PMU18 là vụ kép gồm hai vụ án : Vụ tham nhũng tại PMU18 và vụ đàn áp các nhà báo và sĩ quan cảnh sát chống tham nhũng trong vụ PMU18. Vụ thứ nhất là điển hình lọt người lọt tội, còn vụ thứ hai là điển hình của oan sai. Ở đây tôi muốn nhấn mạnh đến vụ thứ hai. Vụ này có liên quan đến vụ Năm Cam, ít nhất từ phía báo Thanh Niên thời anh Nguyễn Công Khế làm Tổng biên tập.
Trong vụ án Năm Cam, Ban chuyên án đã tuân thủ nguyên tắc pháp quyền khi bắt người, nghĩa là chỉ bắt người khi có đầy đủ chứng cứ phạm tội, chính vì vậy mà những kẻ bảo kê cho Năm Cam dù có quyền lực rất lớn cũng không ngăn cản được. Còn trong vụ PMU18, việc bắt giam và truy tố hai nhà báo và một số sĩ quan công an chống tham nhũng hoàn toàn không có một chứng cứ phạm tội nào, mà chỉ tuân theo sự “chỉ đạo” của vài người có quyền lực cao nhất nước lúc đó mà thôi.
Những người vì tư thù đang lăm le muốn lật lại vụ Năm Cam, dù đang nằm trong cơ quan nhà nước hay đang khoác áo “nhà hoạt động dân chủ”, hãy nhớ cho kỹ, nếu như Ban chuyên án vụ Năm Cam không tuân thủ nguyên tắc pháp quyền khi bắt người thì tướng Nguyễn Việt Thành và một loạt sĩ quan cảnh sát tham gia chuyên án đã vào tù trước khi diễn ra phiên tòa xét xử vụ án Năm Cam chứ chẳng đợi đến bây giờ cho các vị “lật lại”.
Cũng xin nói cho rõ thêm điều này nữa, Báo Thanh Niên tham gia vạch trần các đường dây ma quỷ trong vụ Năm Cam không phải “ăn theo” Ban Chuyên án, không phải ai đó “bật đèn xanh”, không phải để câu khách bán báo, mà chấp nhận đem tánh mạng của một loạt cán bộ, phóng viên của Báo để tham gia bảo vệ sự nghiêm minh của luật pháp, bảo vệ sự trong sạch của chế độ, bảo vệ cuộc sống yên lành của người dân. Ngoài anh Khế, anh Quốc Phong, anh Đặng Thanh Tịnh trong Ban Biên tập tham gia đứng mũi chịu sào, còn có một đội ngũ gồm anh Nguyễn Quang Thông, anh Huỳnh Ngọc Chênh, anh Kim Trí tham gia tổ chức và biên tập bài vở cùng các phóng viên lao ra sóng gió để tác nghiệp là các anh Nguyễn Việt Chiến, anh Hữu Phú, anh Nguyên Thủy, anh Võ Khối và nhiều anh chị em khác tham gia ở những mức độ khác nhau. Về phía cộng tác viên từng thâm nhập sâu vào đường dây Năm Cam có anh Đinh Bắc Giang và anh Song Hà. Riêng anh Hữu Phú từng bị đe dọa khởi tố trong một cuộc tác nghiệp, may nhờ ông Trương Hòa Bình (nay là Phó Thủ tướng) hiểu lý lẽ nên anh Hữu Phú mới thoát nạn.
Không chỉ đối với vụ Năm Cam, Thanh Niên còn có những điều tra phăng ra nhiều nhóm lợi ích lũng đoạn cơ quan nhà nước và nền kinh tế, điển hình là vụ khuất tất trong việc chọn nhà thầu Trung Quốc xây dựng Sân vận động quốc gia Mỹ Đình, vụ tham nhũng lớn tại Cơ quan quản lý Dược Bộ Y tế, vụ Cơ quan quản lý Dược Bộ Y tế tạo thế cho doanh nghiệp độc quyền tăng giá thuốc, vụ nhóm lợi ích lũng đoạn chính sách để biến Việt Nam thành một bãi rác, kiềm hãm sự phát triển ngành công nghiệp ô tô và sự dối trá trong chất lượng xăng dầu… Với tư cách là Tổng biên tập, anh Nguyễn Công Khế đã phải đối mặt với sự trả thù hèn hạ của những kẻ giấu mặt nằm trong hoặc bảo kê cho các nhóm lợi ích nói trên. Có ít nhất 3 lần Năm Cam sát hại anh Khế không thành, lần cuối cùng trước khi Năm Cam bị bắt mà câu chuyện cũng đã được ghi lại trong một cuốn sách chuyên đề “Giải mã giang hồ” của NXB Công an nhân dân nên tôi không cần phải nhắc lại. Báo Thanh Niên đã liên tục bị kiểm toán, chỉ cần anh Khế tiêu cực thâm lạm một đồng của Báo thì anh đã bị mất chức từ lâu trước khi vụ PMU18 xảy ra. Bọn họ đã dựng một hồ sơ giả, vu cho anh cộng tác với Đặc ủy Trung ương tình báo chính quyền Sài Gòn cũ, họ đã “treo lơ lửng” cái hồ sơ giả đó để thỉnh thoảng mang ra uy hiếp anh, cũng may là hồ sơ đó đã lên tới người lãnh đạo cao nhất, cho nên mới có yêu cầu kiểm tra và một cuộc kiểm tra đã xác minh đó là hồ sơ giả, vì vậy mà anh mới vô tội (nhưng gần đây một số người lại dùng cái hồ sơ giả đó để đưa lên mạng nhằm tiếp tục tấn công anh).
Chuyên án chống tham nhũng trong vụ PMU18 không phải là kết quả của sự đấu đá nội bộ gì, mà là nỗ lực vô cùng lớn của các sĩ quan công an nhân dân chính trực. Phải biết rằng từ khi nước ta sử dụng vốn ODA cho đến lúc đó, ai cũng biết là tham nhũng từ nguồn vốn này là vô cùng trầm trọng nhưng hầu như không có vụ nào được điều tra xét xử, thì mới thấy nỗ lực đáng khâm phục của họ. Các sĩ quan này một lòng tin vào đường lối đổi mới, tin vào Nhà nước pháp quyền, tin vào sự trong sạch của cấp trên. Nhưng những nỗ lực của họ đã bị ngăn chặn, nên vụ án đã để lọt người lọt tội. Nhằm bảo kê cho tham nhũng, ngăn chặn những nỗ lực chống tham nhũng của các sĩ quan công an chính trực và các nhà báo, cơ quan cảnh sát điều tra bị vô hiệu hóa, thượng tá Đinh Văn Huynh bị bắt cùng với 2 nhà báo, tướng Phạm Xuân Quắc bị khởi tố. Trong vụ cụ thể này, cũng từ Bộ Công an, nhưng nỗ lực chống tham nhũng của một bộ phận sĩ quan cảnh sát đã bị cơ quan an ninh dập tắt. Tôi không nói các vị chỉ huy đương nhiệm của cơ quan an ninh vì các vị không có liên quan, nhưng các vị tiền nhiệm nếu có lương tâm thì nên sám hối.
Vụ PMU18 diễn ra trong thời gian tôi làm Tổng Thư ký tòa soạn, anh Quốc Phong là Phó Tổng biên tập phụ trách khu vực Hà Nội của báo. Tôi là người kiểm soát chặt chẽ cung cách tác nghiệp của anh Nguyễn Việt Chiến nên biết rõ sự cẩn trọng của anh trong vụ này. Toàn bộ những bài viết của anh Chiến trên báo Thanh Niên về vụ án này được tôi biên tập rất kỹ lưỡng, chúng hoàn toàn trung thực, trừ vài chi tiết nhầm lẫn nhỏ hoặc gây hiểu nhầm đã cải chính theo luật định, các chi tiết này hoàn toàn không ảnh hưởng đến sự trung thực trong những bài báo của anh. Trong suốt 3 năm, không có bất cứ sự phản hồi nào từ các cơ quan có thẩm quyền nói rằng anh Chiến viết sai.
Qua một số nguồn tin riêng, chúng tôi cũng đoán trước là anh Chiến sẽ bị bắt. Trước khi bị bắt, anh còn tranh thủ vào TP.HCM ghé tòa soạn giao cho tôi một số tài liệu gốc kèm băng ghi âm để nếu có việc gì sẽ đem ra đối chất.
Khi anh Chiến (cùng với anh Hải ở Báo Tuổi trẻ) bị bắt, Tổng Biên tập Nguyễn Công Khế đang công tác tại Côn Đảo. Là Tổng thư ký tòa soạn, tôi hoàn toàn không tự tung tự tác muốn làm gì thì làm trên mặt báo, mà phải tuân thủ nghiêm ngặt cơ chế kiểm soát thông tin cũng như tôn chỉ mục đích của báo. Hôm sau, Thanh Niên đăng một bản tin “2 nhà báo Thanh Niên và Tuổi Trẻ bị bắt vì đưa tin vụ PMU18” kèm theo bài tường thuật quá trình Thanh Niên đã đưa tin về vụ án này cùng một số vấn đề đặt ra. Không ai có ý kiến gì về bản tin đó. Ngày hôm sau, 14-5-2008, tôi tập hợp các bài viết gồm các phỏng vấn quan chức, nhân vật của công chúng và ý kiến bạn đọc thành một chuyên đề và giật một cái tít chung “Phải trả tự do cho các nhà báo chân chính”, kèm theo bài “Nhà báo và nhân dân” của nhà thơ Thanh Thảo trong mục Chào buổi sáng. Và sau tai họa của anh Chiến, tai họa đã xảy ra đối với Tổng Biên tập, với anh Quốc Phong và bản thân tôi bắt đầu từ dòng tít này.
Trước khi kể tiếp những gì diễn ra sau đó, xin lưu ý là với dòng tít nói trên chúng tôi không hề có ý biến Thanh Niên thành một tờ báo “đối lập”. Bởi vì ít nhất từ khi diễn ra công cuộc đổi mới đến giờ, báo chí vẫn phê phán bộ này ngành kia. Xa hơn nữa, từ khi lập Đảng và lập ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đến nay, cụ Hồ vẫn kêu gọi phê bình và tự phê bình không có giới hạn. Phê bình Bộ Công an cũng như phê bình Bộ Giao thông, Bộ Y tế hay Bộ Công thương, có ai nói là chống Đảng chống Nhà nước đâu. Bộ Công an bắt người sai thì phải nói là bắt sai chứ, đã biết bắt sai thì phải yêu cầu thả ra, biết rõ là bắt sai mà không dám nói thì còn đâu tư cách nhà báo mà xuất hiện trên mặt báo nữa. Nói là chưa có tiền lệ thì tại sao lại không tạo ra tiền lệ để thực hiện lời dạy của cụ Hồ ? Đồng nhất Bộ Công an với Đảng và Nhà nước là chuyện “mới”, cho đến khi bị cơ quan an ninh điều tra triệu tập thẩm vấn 13 buổi tôi mới “nhận thức’ được thực tế này (còn tiếp – Kỳ tới : Vụ PMU18, ai muốn xé bỏ pháp quyền ?)
HOÀNG HẢI VÂN

TÙNG THIỆN VƯƠNG MIÊN THẨM VÀ BIẾN ĐỘNG “GIẶC CHÀY VÔI”

TÙNG THIỆN VƯƠNG MIÊN THẨM VÀ BIẾN ĐỘNG “GIẶC CHÀY VÔI” (Trong các bạn trên FB, có những người là cháu trực hệ của Tùng Thiện vương nê...